- Saṁyutta Nikāya 38.12
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.12 — Kinh Vấn Đáp Về Thủ
Upādānapañhāsutta
Vi-n 3 : “Thủ, thủ”, này Hiền giả Sāriputta, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, thế nào là thủ?
—Có bốn thủ này, này Hiền giả, dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này Hiền giả, đây là bốn thủ này.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận bốn thủ ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận bốn thủ ấy.
Vi-n 5-6. (Như kinh trên, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.12
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Grasping
12. Kinh Vấn Đáp Về Thủ
“‘Upādānaṁ, upādānan’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamaṁ nu kho, āvuso, upādānan”ti?
“Cattārimāni, āvuso, upādānāni. Kāmupādānaṁ, diṭṭhupādānaṁ sīlabbatupādānaṁ, attavādupādānaṁ—imāni kho, āvuso, cattāri upādānānī”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā, etesaṁ upādānānaṁ pahānāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etesaṁ upādānānaṁ pahānāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etesaṁ upādānānaṁ pahānāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etesaṁ upādānānaṁ pahānāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘grasping’. What is grasping?”
“Reverend, there are these four kinds of grasping. Grasping at sensual pleasures, views, precepts and observances, and theories of a self. These are the four kinds of grasping.”
“But, reverend, is there a path and a practice for completely understanding these four kinds of grasping?”
“There is.” …
325. “Này hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Thủ, thủ’. Vậy, này hiền giả, thủ là gì?”. “Này hiền giả, có bốn loại thủ này: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này hiền giả, đây là bốn loại thủ”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các thủ này không?”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các thủ này”. “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ các thủ này?”. “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ các thủ này, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ các thủ này”. “Lành thay, này hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để đoạn trừ các thủ này! Này hiền giả Sāriputta, thật thích hợp để không dể duôi”. Kinh thứ mười hai.
Dvādasamaṁ.
324. “Này hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Bộc lưu, bộc lưu’. Vậy, này hiền giả, bộc lưu là gì?”. “Này hiền giả, có bốn loại bộc lưu này: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Này hiền giả, đây là bốn loại bộc lưu”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các bộc lưu này không?”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các bộc lưu này”. “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ các bộc lưu này?”. “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ các bộc lưu này, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ các bộc lưu này”. “Lành thay, này hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để đoạn trừ các bộc lưu này! Này hiền giả Sāriputta, thật thích hợp để không dể duôi”. Kinh thứ mười một.