- Saṁyutta Nikāya 38.11
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.11 — Kinh Vấn Đáp Về Bộc Lưu
Oghapañhāsutta
Vi-n 3 “Bộc lưu, bộc lưu”, này Hiền giả Sāriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là bộc lưu?
—Có bốn bộc lưu này, này dục bộc lưu, Hiền giả, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Này Hiền giả, có bốn bộc lưu này.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận các bộc lưu ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các bộc lưu ấy.
Vi-n 5-6. (Như kinh trước, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết)
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.11
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Floods
11. Kinh Vấn Đáp Về Bộc Lưu
“‘Ogho, ogho’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamo nu kho, āvuso, ogho”ti?
“Cattārome, āvuso, oghā. Kāmogho, bhavogho, diṭṭhogho, avijjogho—ime kho, āvuso, cattāro oghā”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā, etesaṁ oghānaṁ pahānāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etesaṁ oghānaṁ pahānāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etesaṁ oghānaṁ pahānāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etesaṁ oghānaṁ pahānāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘a flood’. What is a flood?”
“Reverend, there are these four floods. The floods of sensuality, desire to be reborn, views, and ignorance. These are the four floods.”
“But, reverend, is there a path and a practice for completely understanding these floods?”
“There is.” …
324. “Này hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Bộc lưu, bộc lưu’. Vậy, này hiền giả, bộc lưu là gì?”. “Này hiền giả, có bốn loại bộc lưu này: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Này hiền giả, đây là bốn loại bộc lưu”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các bộc lưu này không?”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các bộc lưu này”. “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ các bộc lưu này?”. “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ các bộc lưu này, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ các bộc lưu này”. “Lành thay, này hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để đoạn trừ các bộc lưu này! Này hiền giả Sāriputta, thật thích hợp để không dể duôi”. Kinh thứ mười một.
Ekādasamaṁ.
323. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là ‘ái dục, ái dục’. Này hiền giả, thế nào là ái dục?” “Này hiền giả, có ba loại ái dục này: dục ái, hữu ái, và phi hữu ái – này hiền giả, đây là ba loại ái dục.” “Này hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để đoạn trừ các ái dục này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các ái dục này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ các ái dục này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ các ái dục này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ các ái dục này.” “Này hiền giả, con đường là tốt lành, pháp hành là tốt lành để đoạn trừ các ái dục này. Và này hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ mười).