- Saṁyutta Nikāya 36.19
- 2. Rahogatavagga
Bản dịch
SN 36.19 — Kinh Pañcakaṅga (Thợ Mộc Năm Cạnh)
Pañcakaṅgasutta
Vi-n 2 Rồi người thợ mộc Pancakanga đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Udāyi rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn dạy có bao nhiêu thọ?
—Có ba thọ, này Pancakanga, được Thế Tôn nói đến: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này, này Pancakanga, được Thế Tôn nói đến.
Vi-n 4 Ðược nghe nói vậy, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy ba thọ. Thế Tôn dạy chỉ có hai thọ: lạc thọ và khổ thọ. Còn về bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Vi-n 5 Lần thứ hai, Tôn giả Udāyi nói với thợ mộc Pancakanga:
—Này Pancakanga, Thế Tôn không dạy hai thọ. Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
Lần thứ hai, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy có ba thọ. Thế Tôn dạy có hai thọ: lạc thọ và khổ thọ. Còn bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Vi-n 6 Lần thứ ba, Tôn giả Udāyi nói với thợ mộc Pancakanga:
—Này Pancakanga, Thế Tôn không dạy hai thọ. Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
Lần thứ ba, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy có ba thọ. Thế Tôn dạy có hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Còn bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Như vậy, Tôn giả Udāyi không có thể thuyết phục được thợ mộc Pancakanga, và thợ mộc Pancakanga không thể thuyết phục được Tôn giả Udāyi.
Vi-n 7 Tôn giả Ānanda nghe được câu chuyện này giữa Tôn giả Udāyi và thợ mộc Pancakanga.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda thuật lại với Thế Tôn tất cả câu chuyện xảy ra giữa Tôn giả Udāyi và thợ mộc Pancakanga.
Vi-n 9 —Dầu thật có pháp môn (pariyàyam), này Ānanda, nhưng thợ mộc Pancakanga không tín thọ Tỷ-kheo Udāyi. Và dầu thật có pháp môn, này Ānanda, nhưng Tỷ-kheo Udāyi không tín thọ thợ mộc Pancakanga. Có hai thọ, này Ānanda, theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có ba thọ theo pháp giải thích của Ta. Cũng có năm thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có sáu thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có 16 thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có 108 thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Như vậy, này Ānanda, là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn.
Vi-n 10 Này Ānanda, dầu cho như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn, này Ānanda, những ai không chịu chấp nhận, không chịu tán đồng, không chịu tùy hỷ lời khéo nói, khéo thuyết với nhau; đối với những người ấy sẽ xảy đến như sau: Họ sẽ sống đấu tranh nhau, hủy báng nhau, tranh luận nhau với những khí giới miệng lưỡi. Như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn. Này Ānanda, dầu cho như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn, những ai chịu chấp nhận, chịu tán đồng, chịu tùy hỷ lời khéo nói, khéo thuyết với nhau; đối với những người ấy, sẽ xảy đến như sau: Họ sẽ sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có tranh luận nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt từ ái.
Vi-n 11 Và này Ānanda, có năm dục công đức này. Thế nào là năm? Có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn … Có những xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Ānanda, có năm dục công đức này. Do duyên năm dục công đức này, này Ānanda, khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là dục lạc.
Vi-n 12 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và trú Thiền thứ nhất. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tốt đẹp hơn.
Vi-n 13 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo tịnh chỉ các tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh nhứt tâm. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 14 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 15 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 16 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 17 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 18 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có sở hữu gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 19 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 20 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 21 Sự kiện này xảy ra, này Ānanda. Có các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi như sau: “Sa-môn Gotama nói đến Diệt thọ tưởng định, và tuyên bố là Diệt thọ tưởng định ấy thuộc về lạc. Ý nghĩa này là gì và như thế nào?”. Ðược nói vậy, này Ānanda, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn không tuyên bố thuộc về lạc, dựa vào lạc thọ. Nhưng chỗ nào, này chư Hiền, lạc được cảm thọ, chỗ ấy, Thế Tôn tuyên bố cảm thọ thuộc vào lạc thọ”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 36.19
- 2. In Private
With Pañcakaṅga
9. Kinh Pañcakaṅga (Thợ Mộc Năm Cạnh)
Atha kho pañcakaṅgo thapati yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “kati nu kho, bhante udāyi, vedanā vuttā bhagavatā”ti?
“Tisso kho, thapati, vedanā vuttā bhagavatā. Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Evaṁ vutte, pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā. Dve vedanā vuttā bhagavatā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā. Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca: “na kho, thapati, dve vedanā vuttā bhagavatā. Tisso vedanā vuttā bhagavatā. Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Dutiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā. Dve vedanā vuttā bhagavatā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā. Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca: “na kho, thapati, dve vedanā vuttā bhagavatā. Tisso vedanā vuttā bhagavatā. Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Tatiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā. Dve vedanā vuttā bhagavatā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā. Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Neva sakkhi āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ saññāpetuṁ, na panāsakkhi pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ saññāpetuṁ.
Assosi kho āyasmā ānando āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ.
Then the chamberlain Pañcakaṅga went up to Venerable Udāyī, bowed, sat down to one side, and asked him, “Sir, how many feelings has the Buddha spoken of?”
“Chamberlain, the Buddha has spoken of three feelings: pleasant, painful, and neutral. The Buddha has spoken of these three feelings.”
When he said this, Pañcakaṅga said to Udāyī, “Sir, Udāyī, the Buddha hasn’t spoken of three feelings. He’s spoken of two feelings: pleasant and painful. The Buddha said that neutral feeling is included as a peaceful and subtle kind of pleasure.”
For a second time, Udāyī said to him, “The Buddha hasn’t spoken of two feelings, he’s spoken of three.”
For a second time, Pañcakaṅga said to Udāyī, “The Buddha hasn’t spoken of three feelings, he’s spoken of two.”
And for a third time, Udāyī said to him, “The Buddha hasn’t spoken of two feelings, he’s spoken of three.”
And for a third time, Pañcakaṅga said to Udāyī, “The Buddha hasn’t spoken of three feelings, he’s spoken of two.”
But neither was able to persuade the other.
Venerable Ānanda heard this discussion between Udāyī and Pañcakaṅga.
267. Khi ấy, người thợ mộc Pañcakaṅga đi đến chỗ Tôn giả Udāyī; sau khi đến, đã đảnh lễ Tôn giả Udāyī rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, người thợ mộc Pañcakaṅga đã nói với Tôn giả Udāyī điều này: “Thưa Tôn giả Udāyī, có bao nhiêu thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng?” “Này người thợ mộc, có ba thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng. Lạc thọ, khổ thọ, và thọ bất khổ bất lạc – này người thợ mộc, ba thọ này đã được Thế Tôn thuyết giảng.” Khi được nói như vậy, người thợ mộc Pañcakaṅga đã nói với Tôn giả Udāyī điều này: “Thưa Tôn giả Udāyī, không phải ba thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng. Có hai thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng – lạc thọ và khổ thọ. Thưa Tôn giả, cái thọ bất khổ bất lạc này, đã được Thế Tôn thuyết giảng là nằm trong lạc thọ vi diệu, an tịnh.” Lần thứ hai, Tôn giả Udāyī đã nói với người thợ mộc Pañcakaṅga điều này: “Này người thợ mộc, không phải hai thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng. Có ba thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng. Lạc thọ, khổ thọ, và thọ bất khổ bất lạc – ba thọ này đã được Thế Tôn thuyết giảng.” Lần thứ hai, người thợ mộc Pañcakaṅga đã nói với Tôn giả Udāyī điều này: “Thưa Tôn giả Udāyī, không phải ba thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng. Có hai thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng – lạc thọ và khổ thọ. Thưa Tôn giả, cái thọ bất khổ bất lạc này, đã được Thế Tôn thuyết giảng là nằm trong lạc thọ vi diệu, an tịnh.” Lần thứ ba, Tôn giả Udāyī đã nói với người thợ mộc Pañcakaṅga điều này: “Này người thợ mộc, không phải hai thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng. Có ba thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng. Lạc thọ, khổ thọ, và thọ bất khổ bất lạc – ba thọ này đã được Thế Tôn thuyết giảng.” Lần thứ ba, người thợ mộc Pañcakaṅga đã nói với Tôn giả Udāyī điều này: “Thưa Tôn giả Udāyī, không phải ba thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng. Có hai thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng – lạc thọ và khổ thọ. Thưa Tôn giả, cái thọ bất khổ bất lạc này, đã được Thế Tôn thuyết giảng là nằm trong lạc thọ vi diệu, an tịnh.” Tôn giả Udāyī đã không thể làm cho người thợ mộc Pañcakaṅga hiểu được, và người thợ mộc Pañcakaṅga cũng không thể làm cho Tôn giả Udāyī hiểu được. Tôn giả Ānanda đã nghe được cuộc đối thoại này giữa Tôn giả Udāyī và người thợ mộc Pañcakaṅga.
Khi ấy, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda đã trình bày lại với Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại đã diễn ra giữa Tôn giả Udāyī và người thợ mộc Pañcakaṅga.
“Santameva, ānanda, pariyāyaṁ pañcakaṅgo thapati udāyissa bhikkhuno nābbhanumodi; santañca panānanda, pariyāyaṁ udāyī bhikkhu pañcakaṅgassa thapatino nābbhanumodi.
Dvepi mayā, ānanda, vedanā vuttā pariyāyena. Tissopi mayā vedanā vuttā pariyāyena. Pañcapi mayā vedanā vuttā pariyāyena. Chapi mayā vedanā vuttā pariyāyena. Aṭṭhārasāpi mayā vedanā vuttā pariyāyena. Chattiṁsāpi mayā vedanā vuttā pariyāyena. Aṭṭhasatampi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo. Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ, na samanumaññissanti, na samanujānissanti, na samanumodissanti, tesaṁ etaṁ pāṭikaṅkhaṁ—bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharissantīti.
Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo. Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ samanumaññissanti samanujānissanti samanumodissanti, tesaṁ etaṁ pāṭikaṅkhaṁ—samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharissantīti.
“Ānanda, the explanation by the mendicant Udāyī, which the chamberlain Pañcakaṅga didn’t agree with, was quite correct. But the explanation by Pañcakaṅga, which Udāyī didn’t agree with, was also quite correct.
In one explanation I’ve spoken of two feelings. In another explanation I’ve spoken of three feelings, or five, six, eighteen, thirty-six, or a hundred and eight feelings.
I’ve explained the teaching in all these different ways. This being so, you can expect that those who don’t concede, approve, or agree with what has been well spoken will fight, quarrel, and dispute, continually wounding each other with barbed words.
I’ve explained the teaching in all these different ways. This being so, you can expect that those who do concede, approve, or agree with what has been well spoken will live in harmony, appreciating each other, without dispute, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes.
“Này Ānanda, người thợ mộc Pañcakaṅga đã không hoan hỷ với phương pháp trình bày xác thực của tỳ khưu Udāyī; và này Ānanda, tỳ khưu Udāyī cũng không hoan hỷ với phương pháp trình bày xác thực của người thợ mộc Pañcakaṅga. Này Ānanda, Ta đã thuyết giảng về hai thọ theo một phương pháp. Ta cũng đã thuyết giảng về ba thọ theo một phương pháp. Ta cũng đã thuyết giảng về năm thọ theo một phương pháp. Ta cũng đã thuyết giảng về sáu thọ theo một phương pháp. Ta cũng đã thuyết giảng về mười tám thọ theo một phương pháp. Ta cũng đã thuyết giảng về ba mươi sáu thọ theo một phương pháp. Ta cũng đã thuyết giảng về một trăm lẻ tám thọ theo một phương pháp. Này Ānanda, Pháp đã được Ta thuyết giảng theo nhiều phương pháp như vậy. Này Ānanda, trong giáo pháp đã được Ta thuyết giảng theo nhiều phương pháp như vậy, những ai không thừa nhận, không chấp nhận, không hoan hỷ lời khéo nói, lời khéo trình bày của nhau, điều này có thể được trông đợi nơi họ: họ sẽ sống trong cãi cọ, tranh chấp, bất hòa, đả thương nhau bằng những ngọn giáo miệng. Này Ānanda, Pháp đã được Ta thuyết giảng theo nhiều phương pháp như vậy. Này Ānanda, trong giáo pháp đã được Ta thuyết giảng theo nhiều phương pháp như vậy, những ai thừa nhận, chấp nhận, hoan hỷ lời khéo nói, lời khéo trình bày của nhau, điều này có thể được trông đợi nơi họ: họ sẽ sống hòa hợp, vui vẻ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thân ái.”
Pañcime, ānanda, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā …pe… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Ime kho, ānanda, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, ānanda, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—idaṁ vuccati kāmasukhaṁ. Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ: ‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ: ‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ: ‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
There are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation. The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure. There are those who might say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that. Why is that? Because there is another pleasure that is finer than that.
And what is that pleasure? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is a pleasure that is finer than that. There are those who might say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that. Why is that? Because there is another pleasure that is finer than that.
And what is that pleasure? It’s when, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This is a pleasure that is finer than that. There are those who might say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that. Why is that? Because there is another pleasure that is finer than that.
And what is that pleasure? It’s when, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ This is a pleasure that is finer than that. There are those who might say
“Này Ānanda, có năm dục trưởng dưỡng này. Năm là gì? Các sắc pháp được nhận biết qua mắt, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính khêu gợi... ... các xúc pháp được nhận biết qua thân, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính khêu gợi. Này Ānanda, đây là năm dục trưởng dưỡng. Này Ānanda, bất cứ lạc và hỷ nào khởi lên do duyên với năm dục trưởng dưỡng này, đây được gọi là dục lạc. Này Ānanda, những ai nói như sau: ‘Đây là lạc và hỷ tối thượng, an tịnh mà họ cảm nhận được,’ – điều này Ta không chấp thuận. Vì sao vậy? Này Ānanda, có một loại lạc khác vượt trội hơn và vi diệu hơn lạc này.”
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
And what is that pleasure? It’s when, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This is a pleasure that is finer than that. There are those who might say
Này Ānanda, thế nào là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc ấy. Này Ānanda, những ai nói như vầy: ‘Họ cảm thọ lạc và hỷ này là tối thượng, là tịch tịnh,’ Ta không chấp nhận lời nói này của họ. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì có lạc khác thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā, paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā, nānattasaññānaṁ amanasikārā, ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
And what is that pleasure? It’s when a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the ending of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. This is a pleasure that is finer than that. There are those who might say
Này Ānanda, thế nào là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh, tâm nhất điểm, không tầm, không tứ. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc ấy. Này Ānanda, những ai nói như vầy: ‘Họ cảm thọ lạc và hỷ này là tối thượng, là tịch tịnh,’ Ta không chấp nhận lời nói này của họ. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì có lạc khác thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca? Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma, ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca. Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
And what is that pleasure? It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. This is a pleasure that is finer than that. There are those who might say
Này Ānanda, thế nào là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu do ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, cảm thọ lạc bằng thân, chứng và trú Tam thiền, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc ấy. Này Ānanda, những ai nói như vầy: ‘Họ cảm thọ lạc và hỷ này là tối thượng, là tịch tịnh,’ Ta không chấp nhận lời nói này của họ. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì có lạc khác thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Này Ānanda, thế nào là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu do xả lạc, xả khổ, do hỷ và ưu đã diệt từ trước, chứng và trú Tứ thiền, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc ấy. Này Ānanda, những ai nói như vầy: ‘Họ cảm thọ lạc và hỷ này là tối thượng, là tịch tịnh,’ Ta không chấp nhận lời nói này của họ. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì có lạc khác thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này.
Này Ānanda, thế nào là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả,’ chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc ấy. Này Ānanda, những ai nói như vầy: ‘Họ cảm thọ lạc và hỷ này là tối thượng, là tịch tịnh,’ Ta không chấp nhận lời nói này của họ. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì có lạc khác thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Này Ānanda, thế nào là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn sắc tưởng, do chấm dứt đối ngại tưởng, do không tác ý đến dị biệt tưởng, với ý niệm ‘hư không là vô biên,’ chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc ấy. Này Ānanda, những ai nói như vầy: ‘Họ cảm thọ lạc và hỷ này là tối thượng, là tịch tịnh,’ Ta không chấp nhận lời nói này của họ. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì có lạc khác thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này.
Này Ānanda, lạc nào khác, thù thắng hơn, vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng đạt và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn, vi diệu hơn lạc này. Này Ānanda, những ai nói rằng: ‘Họ cảm thọ lạc và hỷ này là tối thượng, là tịch tịnh,’ Ta không chấp nhận điều này của họ. Vì sao vậy? Này Ānanda, có lạc khác, thù thắng hơn, vi diệu hơn lạc này.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Này Ānanda, thế nào là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên,’ chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc ấy. Này Ānanda, những ai nói như vầy: ‘Họ cảm thọ lạc và hỷ này là tối thượng, là tịch tịnh,’ Ta không chấp nhận lời nói này của họ. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì có lạc khác thù thắng hơn và vi diệu hơn lạc này.
Này Ānanda, lạc nào khác, thù thắng hơn, vi diệu hơn lạc này? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng Định. Này Ānanda, đây chính là lạc khác, thù thắng hơn, vi diệu hơn lạc này.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, ānanda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘saññāvedayitanirodhaṁ samaṇo gotamo āha, tañca sukhasmiṁ paññapeti. Tayidaṁ kiṁsu, tayidaṁ kathaṁsū’ti?
Evaṁvādino, ānanda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘na kho, āvuso, bhagavā sukhaññeva vedanaṁ sandhāya sukhasmiṁ paññapeti. Yattha yattha, āvuso, sukhaṁ upalabbhati, yahiṁ yahiṁ, taṁ taṁ tathāgato sukhasmiṁ paññapetī’”ti.
Navamaṁ.
It’s possible that wanderers of other religions might say: ‘The ascetic Gotama spoke of the cessation of perception and feeling, and he includes it in happiness. What’s up with that?’
When wanderers of other religions say this, you should say to them: ‘Reverends, when the Buddha describes what’s included in happiness, he’s not just referring to pleasant feeling. The Realized One describes pleasure as included in happiness wherever it is found, and in whatever context.’”
Này Ānanda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Sa-môn Gotama nói về Diệt Thọ Tưởng Định, và ngài chế định trạng thái ấy là lạc. Điều này là gì, điều này là thế nào?’ Này Ānanda, các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên được trả lời như sau: ‘Này chư hiền, Thế Tôn không phải chỉ nhắm đến lạc thọ mà chế định là lạc. Này chư hiền, bất cứ nơi nào, bất cứ chỗ nào lạc được tìm thấy, Như Lai chế định trạng thái ấy là lạc.’” Kinh thứ chín.