- Saṁyutta Nikāya 36.17
- 2. Rahogatavagga
Bản dịch
SN 36.17 — Kinh Nhiều Vị Tỳ Khưu thứ nhất
Paṭhamasambahulasutta
Vi-n 2 Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 . Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, thế nào là các thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của thọ?
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến … chánh định. Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của thọ. Tánh vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thọ là sự nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ là sự xuất ly của thọ.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt của thọ là tuần tự. Khi chứng Thiền thứ nhất, lời nói được đoạn diệt … Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được đoạn tận, sân được đoạn tận, si được đoạn tận.
Vi-n 6 Rồi, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng tịnh chỉ các hành là tuần tự. Khi chứng Thiền thứ nhất, các lời nói được tịnh chỉ … Ðối với Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được tịnh chỉ.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, có sáu khinh an. Khi chứng Thiền thứ nhất, lời nói được khinh an. Khi chứng Thiền thứ hai, tầm và tứ được khinh an. Khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh an. Khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an. Khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được khinh an. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 36.17
- 2. In Private
With Several Mendicants (1st)
7. Kinh Nhiều Vị Tỳ Khưu thứ nhất
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“katamā nu kho, bhante, vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamo vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā? Ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan”ti?
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā vuccanti, bhikkhave, vedanā.
Phassasamudayā vedanāsamudayo; phassanirodhā vedanānirodho.
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo vedanānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Yaṁ vedanaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ, ayaṁ vedanāya assādo. Yaṁ vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā, ayaṁ vedanāya ādīnavo. Yo vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ, idaṁ vedanāya nissaraṇaṁ.
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, what is feeling? What’s the origin of feeling? What’s the cessation of feeling? What’s the practice that leads to the cessation of feeling? And what is feeling’s gratification, drawback, and escape?”
“Mendicants, there are these three feelings: pleasant, painful, and neutral. These are called feelings.
Feeling originates from contact. When contact ceases, feeling ceases.
The practice that leads to the cessation of feelings is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
The pleasure and happiness that arise from feeling: this is its gratification. That feeling is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for feeling: this is its escape.
265. Bấy giờ, đông đảo các vị tỳ khưu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, thế nào là các cảm thọ, thế nào là sự sanh khởi của cảm thọ, thế nào là sự đoạn diệt của cảm thọ, thế nào là con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ? Vị ngọt của cảm thọ là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì?’ ‘Này các tỳ khưu, có ba cảm thọ này: lạc thọ, khổ thọ, và thọ không khổ không lạc. Này các tỳ khưu, những điều này được gọi là các cảm thọ. Do sự sanh khởi của xúc nên có sự sanh khởi của cảm thọ; do sự đoạn diệt của xúc nên có sự đoạn diệt của cảm thọ. Con Đường Thánh Tám Ngành này chính là con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ, tức là: Chánh kiến… cho đến… Chánh định. Sự lạc và hỷ sanh khởi do duyên vào cảm thọ, đây là vị ngọt của cảm thọ. Cảm thọ nào là vô thường, là khổ, có bản chất biến hoại, đây là sự nguy hại của cảm thọ. Sự loại bỏ lòng tham và dục, sự từ bỏ lòng tham và dục đối với cảm thọ, đây là sự xuất ly khỏi cảm thọ.
Atha kho pana, bhikkhave, mayā anupubbasaṅkhārānaṁ nirodho akkhāto. Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā niruddhā hoti …pe… khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo niruddho hoti, doso niruddho hoti, moho niruddho hoti. Atha kho pana, bhikkhave, mayā anupubbasaṅkhārānaṁ vūpasamo akkhāto. Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā vūpasantā hoti …pe… khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo vūpasanto hoti, doso vūpasanto hoti, moho vūpasanto hoti. Chayimā, bhikkhave, passaddhiyo. Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā paṭippassaddhā hoti. Dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā paṭippassaddhā honti. Tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti paṭippassaddhā hoti. Catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāsā paṭippassaddhā honti. Saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca paṭippassaddhā honti.
Khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo paṭippassaddho hoti, doso paṭippassaddho hoti, moho paṭippassaddho hotī”ti.
Sattamaṁ.
But I have also explained the progressive cessation of activities. … For someone who has attained the first absorption, speech has ceased. … For a mendicant who has ended the defilements, greed, hate, and delusion have ceased. And I have also explained the progressive settling of activities. For someone who has attained the first absorption, speech has stilled. … For a mendicant who has ended the defilements, greed, hate, and delusion have stilled. There are these six levels of tranquility. For someone who has attained the first absorption, speech has been tranquilized. For someone who has attained the second absorption, the placing of the mind and keeping it connected have been tranquilized. For someone who has attained the third absorption, rapture has been tranquilized. For someone who has attained the fourth absorption, breathing has been tranquilized. For someone who has attained the cessation of perception and feeling, perception and feeling have been tranquilized.
For a mendicant who has ended the defilements, greed, hate, and delusion have been tranquilized.”
‘Lại nữa, này các tỳ khưu, sự đoạn diệt các hành tuần tự đã được Như Lai tuyên thuyết. Đối với vị đã chứng đạt Sơ thiền, lời nói được đoạn diệt… cho đến… đối với vị tỳ khưu đã tận trừ các lậu hoặc, tham được đoạn diệt, sân được đoạn diệt, si được đoạn diệt. Lại nữa, này các tỳ khưu, sự an tịnh các hành tuần tự đã được Như Lai tuyên thuyết. Đối với vị đã chứng đạt Sơ thiền, lời nói được an tịnh… cho đến… đối với vị tỳ khưu đã tận trừ các lậu hoặc, tham được an tịnh, sân được an tịnh, si được an tịnh. Này các tỳ khưu, có sáu sự khinh an này. Đối với vị đã chứng đạt Sơ thiền, lời nói được khinh an. Đối với vị đã chứng đạt Nhị thiền, tầm và tứ được khinh an. Đối với vị đã chứng đạt Tam thiền, hỷ được khinh an. Đối với vị đã chứng đạt Tứ thiền, hơi thở vô và hơi thở ra được khinh an. Đối với vị đã chứng đạt Diệt Tận Định, tưởng và thọ được khinh an. Đối với vị tỳ khưu đã tận trừ các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.’ (Kinh) thứ bảy.