- Saṁyutta Nikāya 36.16
- 2. Rahogatavagga
Bản dịch
SN 36.16 — Kinh Ānanda thứ hai
Dutiyaānandasutta
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên:
—Này Ānanda, thế nào là các thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của thọ?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói cho ý nghĩa của lời nói này! Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này Ānanda, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 5-8. Thế Tôn nói như sau:
—Này Ānanda, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Ānanda, đây gọi là các thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt … (như kinh trên từ số 4 đến số 7). Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 36.16
- 2. In Private
With Ānanda (2nd)
6. Kinh Ānanda thứ hai
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca: “katamā nu kho, ānanda, vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamo vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā? Ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu, bhante, bhagavantaññeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, ānanda, suṇohi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“tisso imā, ānanda, vedanā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā vuccanti, ānanda, vedanā …pe… phassasamudayā …pe…
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo paṭippassaddho hoti, doso paṭippassaddho hoti, moho paṭippassaddho hotī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “Ānanda, what is feeling? What’s the origin of feeling? What’s the cessation of feeling? What’s the practice that leads to the cessation of feeling? And what is feeling’s gratification, drawback, and escape?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. The Buddha said this:
“Ānanda, there are these three feelings: pleasant, painful, and neutral. These are called feelings. …
For a mendicant who has ended the defilements, greed, hate, and delusion have been tranquilized.”
264. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã nói điều này với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên: “Này Ānanda, thế nào là cảm thọ, thế nào là sự tập khởi của cảm thọ, thế nào là sự đoạn diệt của cảm thọ, thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ? Vị ngọt của cảm thọ là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì?” “Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm gốc rễ, lấy Thế Tôn làm người hướng dẫn, lấy Thế Tôn làm nơi nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, này Ānanda, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Ānanda đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này: “Này Ānanda, có ba loại cảm thọ này: cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc. Này Ānanda, đây được gọi là các cảm thọ... do sự tập khởi của xúc... đối với vị Tỳ khưu đã tận diệt các lậu hoặc, tham đã được lắng dịu, sân đã được lắng dịu, si đã được lắng dịu.” Kinh thứ sáu.