- Saṁyutta Nikāya 35.96
- 10. Saḷavagga
Bản dịch
SN 35.96 — Kinh Về Pháp Suy Vong
Parihānadhammasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp thối đọa, pháp bất thối đọa và sáu thắng xứ.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp thối đọa?
Vi-n 4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng (adhivàseti), không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa, … tai nghe tiếng … mũi ngửi hương …
Vi-n 7-8. … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 9 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng, không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp thối đọa.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là pháp bất thối đọa?
Vi-n 12-24. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Như Lai gọi là pháp bất thối đọa … tai nghe tiếng … mũi ngửi hương …
Vi-n 15-16. … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 17 Ở đây, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Như Lai gọi là pháp bất thối đọa.
Vi-n 18 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp bất thối đọa.
Vi-n 19 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu thắng xứ?
Vi-n 20-24. Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Xứ này đã được nhiếp phục”. Và Như Lai gọi đây là thắng xứ … tai … mũi … lưỡi … thân …
Vi-n 25 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, các ác bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Xứ này đã được nhiếp phục”. Và Như Lai gọi đây là thắng xứ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.96
- 10. The Sixes
Liable to Decline
3. Kinh Về Pháp Suy Vong
“Parihānadhammañca vo, bhikkhave, desessāmi aparihānadhammañca cha ca abhibhāyatanāni. Taṁ suṇātha.
Kathañca, bhikkhave, parihānadhammo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjanti pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṁyojaniyā. Tañce bhikkhu adhivāseti nappajahati na vinodeti na byantīkaroti na anabhāvaṁ gameti, veditabbametaṁ, bhikkhave, bhikkhunā: ‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’. Parihānañhetaṁ vuttaṁ bhagavatāti …pe….
“Mendicants, I will teach you who is liable to decline, who is not liable to decline, and the six fields of mastery. Listen …
And how is someone liable to decline? When a mendicant sees a sight with their eyes, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts that tighten the fetters. Suppose that mendicant tolerates them and doesn’t give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them. They should understand: ‘My skillful qualities are declining. For this is what the Buddha calls decline.’
96. Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về pháp suy vong, pháp không suy vong, và sáu xứ chinh phục. Hãy lắng nghe điều ấy. Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp suy vong? Này các Tỳ khưu, ở đây, sau khi thấy sắc pháp bằng mắt, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái liên quan đến kiết sử khởi lên nơi vị Tỳ khưu. Nếu vị Tỳ khưu ấy chấp nhận, không từ bỏ, không xua tan, không làm cho chấm dứt, không làm cho chúng không hiện hữu, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên biết rằng: ‘Ta đang suy vong khỏi các thiện pháp.’ Điều này đã được Đức Thế Tôn gọi là sự suy vong. ...v.v...
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno jivhāya rasaṁ sāyitvā uppajjanti …pe… puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno manasā dhammaṁ viññāya uppajjanti pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṁyojaniyā. Tañce bhikkhu adhivāseti nappajahati na vinodeti na byantīkaroti na anabhāvaṁ gameti, veditabbametaṁ, bhikkhave, bhikkhunā: ‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’. Parihānañhetaṁ vuttaṁ bhagavatāti. Evaṁ kho, bhikkhave, parihānadhammo hoti.
Furthermore, when a mendicant hears a sound … smells an odor … tastes a flavor … encounters a touch … knows an idea with their mind, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts that tighten the fetters. If that mendicant tolerates them and doesn’t give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them, they should understand: ‘My skillful qualities are declining. For this is what the Buddha calls decline.’ That’s how someone is liable to decline.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, sau khi nếm vị bằng lưỡi, các pháp ấy khởi lên... ...v.v... Lại nữa, này các Tỳ khưu, sau khi nhận biết pháp bằng ý, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái liên quan đến kiết sử khởi lên nơi vị Tỳ khưu. Nếu vị Tỳ khưu ấy chấp nhận, không từ bỏ, không xua tan, không làm cho chấm dứt, không làm cho chúng không hiện hữu, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên biết rằng: ‘Ta đang suy vong khỏi các thiện pháp.’ Điều này đã được Đức Thế Tôn gọi là sự suy vong. Này các Tỳ khưu, như vậy là pháp suy vong.
Kathañca, bhikkhave, aparihānadhammo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjanti pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṁyojaniyā. Tañce bhikkhu nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, veditabbametaṁ, bhikkhave, bhikkhunā: ‘na parihāyāmi kusalehi dhammehi’. Aparihānañhetaṁ vuttaṁ bhagavatāti …pe….
And how is someone not liable to decline? When a mendicant sees a sight with their eyes, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts that tighten the fetters. Suppose that mendicant doesn’t tolerate them but gives them up, dispels them, eliminates them, and obliterates them. They should understand: ‘My skillful qualities are not declining. For this is what the Buddha calls non-decline.’
Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp không suy vong? Này các Tỳ khưu, ở đây, sau khi thấy sắc pháp bằng mắt, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái liên quan đến kiết sử khởi lên nơi vị Tỳ khưu. Nếu vị Tỳ khưu ấy không chấp nhận, từ bỏ, xua tan, làm cho chấm dứt, làm cho chúng không hiện hữu, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên biết rằng: ‘Ta không suy vong khỏi các thiện pháp.’ Điều này đã được Đức Thế Tôn gọi là sự không suy vong. ...v.v...
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno jivhāya rasaṁ sāyitvā uppajjanti …pe… puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno manasā dhammaṁ viññāya uppajjanti pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṁyojaniyā. Tañce bhikkhu nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, veditabbametaṁ, bhikkhave, bhikkhunā: ‘na parihāyāmi kusalehi dhammehi’. Aparihānañhetaṁ vuttaṁ bhagavatāti. Evaṁ kho, bhikkhave, aparihānadhammo hoti.
Furthermore, when a mendicant hears a sound … smells an odor … tastes a flavor … encounters a touch … knows an idea with their mind, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts that tighten the fetters. Suppose that mendicant doesn’t tolerate them but gives them up, dispels them, eliminates them, and obliterates them. They should understand: ‘My skillful qualities are not declining. For this is what the Buddha calls non-decline.’ That’s how someone is not liable to decline.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, sau khi nếm vị bằng lưỡi, các pháp ấy khởi lên... ...v.v... Lại nữa, này các Tỳ khưu, sau khi nhận biết pháp bằng ý, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái liên quan đến kiết sử khởi lên nơi vị Tỳ khưu. Nếu vị Tỳ khưu ấy không chấp nhận, từ bỏ, xua tan, làm cho chấm dứt, làm cho chúng không hiện hữu, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên biết rằng: ‘Ta không suy vong khỏi các thiện pháp.’ Điều này đã được Đức Thế Tôn gọi là sự không suy vong. Này các Tỳ khưu, như vậy là pháp không suy vong.
Katamāni ca, bhikkhave, cha abhibhāyatanāni? Idha, bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā nuppajjanti pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṁyojaniyā. Veditabbametaṁ, bhikkhave, bhikkhunā: ‘abhibhūtametaṁ āyatanaṁ’. Abhibhāyatanañhetaṁ vuttaṁ bhagavatāti …pe… puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno manasā dhammaṁ viññāya nuppajjanti pāpakā akusalā dhammā sarasaṅkappā saṁyojaniyā. Veditabbametaṁ, bhikkhave, bhikkhunā: ‘abhibhūtametaṁ āyatanaṁ’. Abhibhāyatanañhetaṁ vuttaṁ bhagavatāti. Imāni vuccanti, bhikkhave, cha abhibhāyatanānī”ti.
Tatiyaṁ.
And what are the six fields of mastery? When a mendicant sees a sight with their eyes, bad, unskillful phenomena don’t arise: memories and thoughts that tighten the fetters. They should understand: ‘This sense field has been mastered. For this is what the Buddha calls a field of mastery.’ … Furthermore, when a mendicant knows an idea with their mind, bad, unskillful phenomena don’t arise: memories and thoughts that tighten the fetters. They should understand: ‘This sense field has been mastered. For this is what the Buddha calls a field of mastery.’ These are the six fields of mastery.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là sáu xứ chinh phục? Này các Tỳ khưu, ở đây, sau khi thấy sắc pháp bằng mắt, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái liên quan đến kiết sử không khởi lên nơi vị Tỳ khưu. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên biết rằng: ‘Xứ này đã được chinh phục.’ Điều này đã được Đức Thế Tôn gọi là xứ chinh phục. ...v.v... Lại nữa, này các Tỳ khưu, sau khi nhận biết pháp bằng ý, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái liên quan đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên biết rằng: ‘Xứ này đã được chinh phục.’ Điều này đã được Đức Thế Tôn gọi là xứ chinh phục. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sáu xứ chinh phục.