- Saṁyutta Nikāya 35.95
- 10. Saḷavagga
Bản dịch
SN 35.95 — Kinh Mālukyaputta
Mālukyaputtasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Màlukyaputta đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Màlukyaputta bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4 —Ở đây, này Màlukyaputta, nay Ta nói gì với các Tỷ-kheo trẻ tuổi, khi Ông là một Tỷ-kheo già yếu, niên cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời, lại yêu cầu Ta giáo giới một cách vắn tắt?
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, dầu cho con già yếu, niên cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời, mong Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Mong Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Chắc chắn con sẽ hiểu ý nghĩa lời Thế Tôn giảng. Chắc chắn con sẽ trở thành người thừa tự pháp của Thế Tôn.
Vi-n 6 —Ông nghĩ thế nào, này Màlukyaputta? Các sắc do mắt nhận thức, Ông không thấy, trước đây Ông không thấy, nay Ông không thấy, và Ông không muốn thấy; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 7 —Các tiếng do tai nhận thức, Ông không nghe, trước đây Ông không nghe, nay Ông không nghe, và Ông không muốn nghe; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái hay không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 8 —Các hương do mũi nhận thức, Ông không ngửi, trước đây Ông không ngửi, nay Ông không ngửi, và Ông không muốn ngửi; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 9 —Các vị do lưỡi nhận thức, Ông không nếm, trước đây Ông không nếm, nay Ông không nếm, và Ông không muốn nếm; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Các xúc do thân nhận thức, Ông không cảm thọ, trước đây Ông không cảm thọ, nay Ông không cảm thọ, và Ông không muốn cảm thọ; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 11 —Các pháp do ý thức nhận thức, Ông không nhận thức, trước đây Ông không nhận thức, và Ông không muốn nhận thức;ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 12 —Và ở đây, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, sẽ chỉ nghe được với những vật nghe được, sẽ chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, sẽ chỉ nhận biết được đối với những vật có thể nhận biết được.
Vi-n 13 Vì rằng, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, chỉ nghe được với những vật nghe được, chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, chỉ nhận biết được đối với những vật nhận biết được. Cho nên, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy, nên Ông không có: “Ở nơi đây”. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có: “Ở nơi đây”, do vậy, này Màlukyaputta, Ông sẽ không có đời này, đời sau, và giữa hai đời ấy. Ðây là sự chấm dứt khổ đau.
Vi-n 14 —Bạch Thế Tôn, lời giảng vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau:
Vi-n 1~1 Thấy sắc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến sắc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ sắc sinh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết—bàn.Vi-n 2~2 Nghe tiếng, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến tiếng an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ tiếng sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðựơc gọi xa Niết-bàn.Vi-n 3~3 Ngửi hương, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến tiếng an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ tiếng sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.Vi-n 4~4 Nếm vị, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến vị an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ vị sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.Vi-n 5~5 Cảm xúc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến xúc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ xúc sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.Vi-n 6~6 Biết pháp, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến pháp an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ pháp sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bànVi-n 7~7 Vị ấy không tham sắc,
Thấy sắc, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến sắc an trú.
Theo sắc, vị ấy thấy,
Tùy sắc, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bànVi-n 8~8 Vị ấy không tham tiếng,
Nghe tiếng, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến tiếng an trú.
Theo tiếng, vị ấy nghe,
Tùy tiếng, thọ cảm giác.
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.Vi-n 9~9 Vị ấy không tham hương,
Ngửi hương, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến hương an trú.
Theo hương, vị ấy ngửi,
Tùy hương, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn.Vi-n 10~10 Vị ấy không tham vị,
Nếm vị, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến vị an trú.
Theo vị, vị ấy nếm.
Tùy vị, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn.Vi-n 11~11 Vị ấy không tham xúc,
Cảm xúc, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến xúc an trú,
Theo xúc, vị ấy cảm,
Tùy xúc, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.Vi-n 12~12 Vị ấy không tham pháp,
Biết pháp, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến pháp an trú.
Theo pháp, vị ấy cảm,
Tùy pháp, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.
Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói vắn tắt này, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Vi-n 15 —Lành thay, lành thay, này Màlukyaputta! Lành thay, này Màlukyaputta, lời nói vắn tắt của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi:
Vi-n 1~13 Thấy sắc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến sắc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ sắc sanh.
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.Vi-n 2~14 - 11) …
Vi-n 12~15 Vị ấy không tham pháp,
Biết pháp, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến pháp an trú.
Theo pháp, vị ấy cảm,
Tùy pháp, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.
Lời nói vắn tắt này của Ta, này Màlukyaputta, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Vi-n 16 Rồi Tôn giả Màlukyaputta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
Vi-n 17 Rồi Tôn giả Màlukyaputta sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, chứng được mục đích mà các thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 18 Và Tôn giả Màlukyaputta trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.95
- 10. The Sixes
Māluṅkyaputta
2. Kinh Mālukyaputta
Atha kho āyasmā mālukyaputto yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mālukyaputto bhagavantaṁ etadavoca: “sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
Then Venerable Māluṅkyaputta went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
95. Rồi Tôn giả Mālukyaputta đi đến chỗ Thế Tôn... tóm tắt... Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mālukyaputta bạch với Thế Tôn điều này: “Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách tóm tắt, để sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con có thể sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.”
“Ettha dāni, mālukyaputta, kiṁ dahare bhikkhū vakkhāma. Yatra hi nāma tvaṁ, bhikkhu, jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto saṅkhittena ovādaṁ yācasī”ti.
“Well now, Māluṅkyaputta, what are we to say to the young monks, when even an old man like you, elderly and senior, advanced in years, having reached the final stage of life, asks for brief advice?”
“Này Mālukyaputta, trong trường hợp này, Ta sẽ nói gì với các Tỳ khưu trẻ đây! Khi mà ông, một Tỳ khưu già, trưởng thành, lớn tuổi, đã đi hết quãng đường đời, đã đến tuổi xế chiều, lại yêu cầu một lời giáo huấn tóm tắt.”
“Kiñcāpāhaṁ, bhante, jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto. Desetu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ, desetu sugato saṅkhittena dhammaṁ, appeva nāmāhaṁ bhagavato bhāsitassa atthaṁ ājāneyyaṁ. Appeva nāmāhaṁ bhagavato bhāsitassa dāyādo assan”ti.
“Sir, even though I’m an old man, elderly and senior, may the Buddha please teach me Dhamma in brief! May the Holy One please teach me in brief! Hopefully I can understand the meaning of what the Buddha says. Hopefully I can be an heir of the Buddha’s teaching!”
“Bạch Thế Tôn, mặc dù con đã già, trưởng thành, lớn tuổi, đã đi hết quãng đường đời, đã đến tuổi xế chiều. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách tóm tắt, mong Thiện Thệ hãy thuyết pháp một cách tóm tắt. May ra con có thể hiểu được ý nghĩa lời dạy của Thế Tôn. May ra con có thể trở thành người thừa tự lời dạy của Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mālukyaputta, ye te cakkhuviññeyyā rūpā adiṭṭhā adiṭṭhapubbā, na ca passasi, na ca te hoti passeyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“What do you think, Māluṅkyaputta? Do you have any desire or greed or fondness for sights known by the eye that are unseen, unseen before, and which you neither see nor think might be seen?”
“No, sir.”
“Này Mālukyaputta, ông nghĩ thế nào? Đối với những sắc pháp được nhận biết qua mắt mà ông chưa thấy, chưa từng thấy trước đây, và ông không thấy, và ông không có ý nghĩ ‘mong rằng tôi sẽ thấy’, ông có dục tham, hay tham ái, hay ái luyến nào ở nơi đó không?” “Bạch Thế Tôn, không có.”
“Ye te sotaviññeyyā saddā assutā assutapubbā, na ca suṇāsi, na ca te hoti suṇeyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
“Do you have any desire or greed or affection for sounds known by the ear …
“Đối với những âm thanh được nhận biết qua tai mà ông chưa nghe, chưa từng nghe trước đây, và ông không nghe, và ông không có ý nghĩ ‘mong rằng tôi sẽ nghe’, ông có dục tham, hay tham ái, hay ái luyến nào ở nơi đó không?” “Bạch Thế Tôn, không có.”
“Ye te ghānaviññeyyā gandhā aghāyitā aghāyitapubbā, na ca ghāyasi, na ca te hoti ghāyeyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
smells known by the nose …
“Đối với những mùi hương được nhận biết qua mũi mà ông chưa ngửi, chưa từng ngửi trước đây, và ông không ngửi, và ông không có ý nghĩ ‘mong rằng tôi sẽ ngửi’, ông có dục tham, hay tham ái, hay ái luyến nào ở nơi đó không?” “Bạch Thế Tôn, không có.”
“Ye te jivhāviññeyyā rasā asāyitā asāyitapubbā, na ca sāyasi, na ca te hoti sāyeyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
tastes known by the tongue …
“Đối với những vị được nhận biết qua lưỡi mà ông chưa nếm, chưa từng nếm trước đây, và ông không nếm, và ông không có ý nghĩ ‘mong rằng tôi sẽ nếm’, ông có dục tham, hay tham ái, hay ái luyến nào ở nơi đó không?” “Bạch Thế Tôn, không có.”
“Ye te kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā asamphuṭṭhā asamphuṭṭhapubbā, na ca phusasi, na ca te hoti phuseyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
touches known by the body …
“Đối với những vật xúc chạm được nhận biết qua thân mà ông chưa xúc chạm, chưa từng xúc chạm trước đây, và ông không xúc chạm, và ông không có ý nghĩ ‘mong rằng tôi sẽ xúc chạm’, ông có dục tham, hay tham ái, hay ái luyến nào ở nơi đó không?” “Bạch Thế Tôn, không có.”
“Ye te manoviññeyyā dhammā aviññātā aviññātapubbā, na ca vijānāsi, na ca te hoti vijāneyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
ideas known by the mind that are unknown, unknown before, and which you neither know nor think might be known?”
“No, sir.”
“Đối với những pháp được nhận biết qua ý mà ông chưa biết, chưa từng biết trước đây, và ông không biết, và ông không có ý nghĩ ‘mong rằng tôi sẽ biết’, ông có dục tham, hay tham ái, hay ái luyến nào ở nơi đó không?” “Bạch Thế Tôn, không có.”
“Ettha ca te, mālukyaputta, diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu diṭṭhe diṭṭhamattaṁ bhavissati, sute sutamattaṁ bhavissati, mute mutamattaṁ bhavissati, viññāte viññātamattaṁ bhavissati. Yato kho te, mālukyaputta, diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu diṭṭhe diṭṭhamattaṁ bhavissati, sute sutamattaṁ bhavissati, mute mutamattaṁ bhavissati, viññāte viññātamattaṁ bhavissati; tato tvaṁ, mālukyaputta, na tena. Yato tvaṁ, mālukyaputta, na tena; tato tvaṁ, mālukyaputta, na tattha. Yato tvaṁ, mālukyaputta, na tattha; tato tvaṁ, mālukyaputta, nevidha, na huraṁ, na ubhayamantarena. Esevanto dukkhassā”ti.
“In that case, when it comes to things that ought be seen, heard, thought, and known: in the seen will be merely the seen; in the heard will be merely the heard; in the thought will be merely the thought; in the known will be merely the known. When this is the case, you won’t be ‘by that’. When you’re not ‘by that’, you won’t be ‘in that’. When you’re not ‘in that’, you won’t be in this life or the next or in between the two. Just this is the end of suffering.”
“Này Mālukyaputta, trong các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết, đối với ông, trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy, trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe, trong cái được cảm nhận sẽ chỉ là cái được cảm nhận, trong cái được nhận biết sẽ chỉ là cái được nhận biết. Này Mālukyaputta, khi nào đối với ông, trong các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết, trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy, trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe, trong cái được cảm nhận sẽ chỉ là cái được cảm nhận, trong cái được nhận biết sẽ chỉ là cái được nhận biết; thì khi ấy, này Mālukyaputta, ông sẽ không do đó. Khi nào, này Mālukyaputta, ông không do đó; thì khi ấy, này Mālukyaputta, ông sẽ không ở nơi đó. Khi nào, này Mālukyaputta, ông không ở nơi đó; thì khi ấy, này Mālukyaputta, ông sẽ không ở đời này, không ở đời sau, không ở khoảng giữa cả hai. Chính đây là sự chấm dứt khổ đau.”
“Imassa khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi:
“This is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement:
“Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách chi tiết về lời dạy được Thế Tôn thuyết một cách tóm tắt này như sau –”
‘Rūpaṁ disvā sati muṭṭhā, Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto; Sārattacitto vedeti,
‘When you see a sight, mindfulness is lost as you focus on a pleasant feature. Experiencing it with a mind full of desire,
“Sau khi thấy sắc, niệm bị thất lạc, đối với người tác ý đến tướng khả ái; với tâm tham luyến, người ấy cảm thọ, và an trú trong sự bám víu vào đối tượng ấy.
“Sau khi nghe tiếng, niệm bị thất lạc, đối với người tác ý đến tướng khả ái; với tâm tham luyến, người ấy cảm thọ, và an trú trong sự bám víu vào đối tượng ấy.
Tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā rūpasambhavā; Abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati; Evaṁ ācinato dukkhaṁ, ārā nibbāna vuccati.
Saddaṁ sutvā sati muṭṭhā, Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto; Sārattacitto vedeti, Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Many feelings grow arising from sights. The mind is damaged by covetousness and cruelty. Heaping up suffering like this, you’re said to be far from extinguishment.
When you hear a sound, mindfulness is lost as you focus on a pleasant feature. Experiencing it with a mind full of desire, you keep clinging to it.
“Đối với người ấy, nhiều cảm thọ sanh khởi từ tiếng được tăng trưởng; và tham ái và ưu não làm tổn hại tâm của người ấy. Như vậy, đối với người tích lũy khổ đau, được nói rằng là xa lìa Nibbāna.
Tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā saddasambhavā; Abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati; Evaṁ ācinato dukkhaṁ, ārā nibbāna vuccati.
Gandhaṁ ghatvā sati muṭṭhā, Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto; Sārattacitto vedeti, Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā gandhasambhavā; Abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati; Evaṁ ācinato dukkhaṁ, ārā nibbāna vuccati.
Rasaṁ bhotvā sati muṭṭhā, Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto; Sārattacitto vedeti, Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā rasasambhavā; Abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati; Evaṁ ācinato dukkhaṁ, ārā nibbāna vuccati.
Phassaṁ phussa sati muṭṭhā, Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto; Sārattacitto vedeti, Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā phassasambhavā; Abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati; Evaṁ ācinato dukkhaṁ, ārā nibbāna vuccati.
Dhammaṁ ñatvā sati muṭṭhā, Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto; Sārattacitto vedeti, Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Many feelings grow arising from sounds. The mind is damaged by covetousness and cruelty. Heaping up suffering like this, you’re said to be far from extinguishment.
When you smell an odor, mindfulness is lost as you focus on a pleasant feature. Experiencing it with a mind full of desire, you keep clinging to it.
Many feelings grow arising from smells. The mind is damaged by covetousness and cruelty. Heaping up suffering like this, you’re said to be far from extinguishment.
When you enjoy a taste, mindfulness is lost as you focus on a pleasant feature. Experiencing it with a mind full of desire, you keep clinging to it.
Many feelings grow arising from tastes. The mind is damaged by covetousness and cruelty. Heaping up suffering like this, you’re said to be far from extinguishment.
When you sense a touch, mindfulness is lost as you focus on a pleasant feature. Experiencing it with a mind full of desire, you keep clinging to it.
Many feelings grow arising from touches. The mind is damaged by covetousness and cruelty. Heaping up suffering like this, you’re said to be far from extinguishment.
When you know an idea, mindfulness is lost as you focus on a pleasant feature. Experiencing it with a mind full of desire, you keep clinging to it.
“Sau khi thấy sắc, niệm bị thất lạc, đối với người tác ý đến tướng khả ái; với tâm tham luyến, người ấy cảm thọ, và an trú trong sự bám víu vào đối tượng ấy.
Tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā dhammasambhavā; Abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati; Evaṁ ācinato dukkhaṁ, ārā nibbāna vuccati.
Na so rajjati rūpesu, rūpaṁ disvā paṭissato; Virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa passato rūpaṁ, sevato cāpi vedanaṁ; Khīyati nopacīyati, evaṁ so caratī sato; Evaṁ apacinato dukkhaṁ, santike nibbāna vuccati.
Many feelings grow arising from ideas. The mind is damaged by covetousness and cruelty. Heaping up suffering like this, you’re said to be far from extinguishment.
There’s no desire for sights when you see a sight with mindfulness. Experiencing it with a mind free of desire, you don’t keep clinging to it.
Even as you see a sight and get familiar with how it feels, you wear away, you don’t heap up: that’s how to live mindfully. Eroding suffering like this, you’re said to be in the presence of extinguishment.
“Đối với người ấy, nhiều cảm thọ sanh khởi từ sắc được tăng trưởng; và tham ái và ưu não làm tổn hại tâm của người ấy. Như vậy, đối với người tích lũy khổ đau, được nói rằng là xa lìa Nibbāna. …v.v….
Na so rajjati saddesu, saddaṁ sutvā paṭissato; Virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa suṇato saddaṁ, sevato cāpi vedanaṁ; Khīyati nopacīyati, evaṁ so caratī sato; Evaṁ apacinato dukkhaṁ, santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati gandhesu, gandhaṁ ghatvā paṭissato; Virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa ghāyato gandhaṁ, sevato cāpi vedanaṁ; Khīyati nopacīyati, evaṁ so caratī sato; Evaṁ apacinato dukkhaṁ, santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati rasesu, rasaṁ bhotvā paṭissato; Virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa sāyato rasaṁ, sevato cāpi vedanaṁ; Khīyati nopacīyati, evaṁ so caratī sato; Evaṁ apacinato dukkhaṁ, santike nibbāna vuccati.
There’s no desire for sounds when you hear a sound with mindfulness. Experiencing it with a mind free of desire, you don’t keep clinging to it.
Even as you hear a sound and get familiar with how it feels, you wear away, you don’t heap up: that’s how to live mindfully. Eroding suffering like this, you’re said to be in the presence of extinguishment.
There’s no desire for odors when you smell an odor with mindfulness. Experiencing it with a mind free of desire, you don’t keep clinging to it.
Even as you smell an odor and get familiar with how it feels, you wear away, you don’t heap up: that’s how to live mindfully. Eroding suffering like this, you’re said to be in the presence of extinguishment.
There’s no desire for tastes when you enjoy a taste with mindfulness. Experiencing it with a mind free of desire, you don’t keep clinging to it.
Even as you savor a taste and get familiar with how it feels, you wear away, you don’t heap up: that’s how to live mindfully. Eroding suffering like this, you’re said to be in the presence of extinguishment.
“Đối với vị ấy, trong khi biết pháp và cũng trong khi trải nghiệm cảm thọ, (khổ) được tiêu trừ, không được tích lũy. Như vậy, vị ấy sống với chánh niệm. Như vậy, đối với người không tích lũy khổ đau, được nói rằng là gần kề Nibbāna.”
Na so rajjati phassesu, phassaṁ phussa paṭissato; Virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa phusato phassaṁ, sevato cāpi vedanaṁ; Khīyati nopacīyati, evaṁ so caratī sato; Evaṁ apacinato dukkhaṁ, santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati dhammesu, dhammaṁ ñatvā paṭissato; Virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa jānato dhammaṁ, Sevato cāpi vedanaṁ; Khīyati nopacīyati, Evaṁ so caratī sato; Evaṁ apacinato dukkhaṁ, Santike nibbāna vuccatī’ti.
There’s no desire for touches when you sense a touch with mindfulness. Experiencing it with a mind free of desire, you don’t keep clinging to it.
Even as you sense a touch and get familiar with how it feels, you wear away, you don’t heap up: that’s how to live mindfully. Eroding suffering like this, you’re said to be in the presence of extinguishment.
There’s no desire for ideas when you know an idea with mindfulness. Experiencing it with a mind free of desire, you don’t keep clinging to it.
Even as you know an idea and get familiar with how it feels, you wear away, you don’t heap up: that’s how to live mindfully. Eroding suffering like this, you’re said to be in the presence of extinguishment.’
“Vị ấy không tham đắm các pháp, sau khi biết pháp, vị ấy có chánh niệm; với tâm ly tham, vị ấy cảm thọ, và không an trú trong sự bám víu vào đối tượng ấy.
Imassa khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, mālukyaputta. Sādhu kho tvaṁ, mālukyaputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāsi:
That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.”
“Good, good, Māluṅkyaputta! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.” And he repeated the verses in full.
“Này Mālukyaputta, ý nghĩa của điều đã được ta nói một cách tóm tắt nên được hiểu một cách rộng rãi như vầy.”
‘Rūpaṁ disvā sati muṭṭhā, Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto; Sārattacitto vedeti, Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
96. Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về pháp suy vong, pháp không suy vong, và sáu xứ chinh phục. Hãy lắng nghe điều ấy. Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp suy vong? Này các Tỳ khưu, ở đây, sau khi thấy sắc pháp bằng mắt, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái liên quan đến kiết sử khởi lên nơi vị Tỳ khưu. Nếu vị Tỳ khưu ấy chấp nhận, không từ bỏ, không xua tan, không làm cho chấm dứt, không làm cho chúng không hiện hữu, thì này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên biết rằng: ‘Ta đang suy vong khỏi các thiện pháp.’ Điều này đã được Đức Thế Tôn gọi là sự suy vong. ...v.v...
Tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā rūpasambhavā; Abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati; Evaṁ ācinato dukkhaṁ, ārā nibbāna vuccati.
…pe…
“Đối với người ấy, nhiều cảm thọ sanh khởi từ sắc được tăng trưởng; và tham ái và ưu não làm tổn hại tâm của người ấy. Như vậy, đối với người tích lũy khổ đau, được nói rằng là xa lìa Nibbāna.
Na so rajjati dhammesu, dhammaṁ ñatvā paṭissato; Virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa vijānato dhammaṁ, Sevato cāpi vedanaṁ; Khīyati nopacīyati, Evaṁ so caratī sato; Evaṁ apacinato dukkhaṁ, Santike nibbāna vuccatī’ti.
Imassa kho, mālukyaputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
“This is how to see the detailed meaning of what I said in brief.”
“Vị ấy không tham đắm các pháp, sau khi biết pháp, vị ấy có chánh niệm; với tâm ly tham, vị ấy cảm thọ, và không an trú trong sự bám víu vào đối tượng ấy.
Atha kho āyasmā mālukyaputto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho āyasmā mālukyaputto eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā mālukyaputto arahataṁ ahosīti.
Dutiyaṁ.
And then Venerable Māluṅkyaputta approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving. Then Māluṅkyaputta, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Māluṅkyaputta became one of the perfected.
Bấy giờ, Tôn giả Mālukyaputta hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra đi. Rồi Tôn giả Mālukyaputta, sống một mình, nơi vắng vẻ, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu sau, vị ấy đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Và Tôn giả Mālukyaputta đã trở thành một trong các vị A-la-hán.