- Saṁyutta Nikāya 35.94
- 10. Saḷavagga
Bản dịch
SN 35.94 — Kinh Không Điều Phục, Không Hộ Trì
Adantaaguttasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Vi-n 3-5. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ … Tai … Mũi …
Vi-n 6-7. … Lưỡi … Thân …
Vi-n 8 Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Vi-n 9 Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
Vi-n 10 Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?
Vi-n 11-13. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc … Tai … Mũi …
Vi-n 14-15. … Lưỡi … Thân …
Vi-n 16 Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Vi-n 17 Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Vi-n 18 Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~1 Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.Vi-n 2~2 Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,
Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối sắc, ta không thích”.Vi-n 3~3 Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối tiếng, ta không thích”.Vi-n 4~4 Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.Vi-n 5~5 Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,
Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.Vi-n 6~6 Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.
Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.Vi-n 7~7 Ðối với các người khác,
Mê theo hý luận tưởng,
Họ mê theo hý luận,
Họ hành theo hư tưởng;
Hãy đoạn trừ tất cả,
Gia sự do ý tạo,
Hãy nhiếp các hành động,
Hướng đến hạnh viễn ly.Vi-n 8~8 Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập,
Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỷ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.94
- 10. The Sixes
Untamed, Unguarded
1. Kinh Không Điều Phục, Không Hộ Trì
Sāvatthinidānaṁ.
“Chayime, bhikkhave, phassāyatanā adantā aguttā arakkhitā asaṁvutā dukkhādhivāhā honti. Katame cha?
Cakkhu, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti …pe…
jivhā, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti …pe…
mano, bhikkhave, phassāyatanaṁ adantaṁ aguttaṁ arakkhitaṁ asaṁvutaṁ dukkhādhivāhaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, cha phassāyatanā adantā aguttā arakkhitā asaṁvutā dukkhādhivāhā honti”.
At Sāvatthī.
“Mendicants, these six fields of contact bring suffering when they’re untamed, unguarded, unprotected, and unrestrained. What six?
The field of eye contact brings suffering when it’s untamed, unguarded, unprotected, and unrestrained.
The field of ear contact … nose contact … tongue contact … body contact …
The field of mind contact brings suffering when it’s untamed, unguarded, unprotected, and unrestrained.
These six fields of contact bring suffering when they’re untamed, unguarded, unprotected, and unrestrained.
94. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, sáu xứ xúc này, khi không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được thu thúc, thì mang lại đau khổ. Thế nào là sáu? Này các Tỳ khưu, xứ xúc là con mắt, khi không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được thu thúc, thì mang lại đau khổ... vân vân... Này các Tỳ khưu, xứ xúc là cái lưỡi, khi không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được thu thúc, thì mang lại đau khổ... vân vân... Này các Tỳ khưu, xứ xúc là ý, khi không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được thu thúc, thì mang lại đau khổ. Này các Tỳ khưu, chính sáu xứ xúc này, khi không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được thu thúc, thì mang lại đau khổ.”
Chayime, bhikkhave, phassāyatanā sudantā suguttā surakkhitā susaṁvutā sukhādhivāhā honti. Katame cha?
Cakkhu, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti …pe…
jivhā, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti …pe…
mano, bhikkhave, phassāyatanaṁ sudantaṁ suguttaṁ surakkhitaṁ susaṁvutaṁ sukhādhivāhaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, cha phassāyatanā sudantā suguttā surakkhitā susaṁvutā sukhādhivāhā hontī”ti.
Idamavoca bhagavā …pe… etadavoca satthā:
These six fields of contact bring happiness when they’re well tamed, well guarded, well protected, and well restrained. What six?
The field of eye contact brings happiness when it’s well tamed, well guarded, well protected, and well restrained.
The field of ear contact … nose contact … tongue contact … body contact …
The field of mind contact brings happiness when it’s well tamed, well guarded, well protected, and well restrained.
These six fields of contact bring happiness when they’re well tamed, well guarded, well protected, and well restrained.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“Này các Tỳ khưu, sáu xứ xúc này, khi được khéo điều phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thu thúc, thì mang lại an lạc. Sáu là những gì? Này các Tỳ khưu, xứ xúc là mắt, khi được khéo điều phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thu thúc, thì mang lại an lạc... tóm tắt... Này các Tỳ khưu, xứ xúc là lưỡi, khi được khéo điều phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thu thúc, thì mang lại an lạc... tóm tắt... Này các Tỳ khưu, xứ xúc là ý, khi được khéo điều phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thu thúc, thì mang lại an lạc. Này các Tỳ khưu, chính sáu xứ xúc này, khi được khéo điều phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thu thúc, thì mang lại an lạc.” Thế Tôn đã nói như vậy... tóm tắt... Bậc Đạo Sư đã nói điều này –
“Saḷeva phassāyatanāni bhikkhavo, Asaṁvuto yattha dukkhaṁ nigacchati; Tesañca ye saṁvaraṇaṁ avedisuṁ, Saddhādutiyā viharantānavassutā.
“Mendicants, it’s just the six fields of contact that lead the unrestrained to suffering. Those who understand how to restrain them live with faith as partner, not festering.
“Này các Tỳ khưu, có sáu xứ xúc, người không thu thúc ở nơi ấy, sẽ đi đến khổ đau. Và những ai đã biết sự thu thúc các xứ ấy, có tín làm bạn đồng hành, sống không bị lậu hoặc.”
Disvāna rūpāni manoramāni, Athopi disvāna amanoramāni; Manorame rāgapathaṁ vinodaye, Na cāppiyaṁ meti manaṁ padosaye.
When you’ve seen pleasant sights and unpleasant ones, too, dispel all manner of desire for the pleasant, without hating what you don’t like.
“Sau khi thấy các sắc khả ý, hoặc lại thấy các sắc không khả ý, đối với sắc khả ý, nên loại bỏ con đường tham ái, và không nên làm tâm sân hận với ý nghĩ ‘đây không phải là điều ta thích’.”
Saddañca sutvā dubhayaṁ piyāppiyaṁ, Piyamhi sadde na samucchito siyā; Athoppiye dosagataṁ vinodaye, Na cāppiyaṁ meti manaṁ padosaye.
When you’ve heard sounds both liked and disliked, don’t fall under the thrall of sounds you like, dispel hate for the unliked, and don’t hurt your mind <j>by thinking of what you don’t like.
“Và sau khi nghe cả hai loại âm thanh, khả ái và không khả ái, không nên say đắm trong âm thanh khả ái; hoặc đối với âm thanh không khả ái, nên loại bỏ sân hận, và không nên làm tâm sân hận với ý nghĩ ‘đây không phải là điều ta thích’.”
Gandhañca ghatvā surabhiṁ manoramaṁ, Athopi ghatvā asuciṁ akantiyaṁ; Akantiyasmiṁ paṭighaṁ vinodaye, Chandānunīto na ca kantiye siyā.
When you’ve smelled a pleasant, fragrant scent, and one that’s foul and unpleasant, dispel aversion for the unpleasant, while not yielding to desire for the pleasant.
“Và sau khi ngửi mùi hương thơm, khả ý, hoặc lại ngửi mùi không trong sạch, không đáng ưa, nên loại bỏ sự chống đối đối với mùi không đáng ưa, và không nên bị dục tham dẫn dắt đối với mùi đáng ưa.”
Rasañca bhotvāna asāditañca sāduṁ, Athopi bhotvāna asādumekadā; Sāduṁ rasaṁ nājjhosāya bhuñje, Virodhamāsādusu nopadaṁsaye.
When you’ve enjoyed a sweet, delicious taste, and sometimes those that are bitter, don’t be attached to enjoying sweet tastes, and don’t despise the bitter.
“Và sau khi nếm vị ngon, hoặc đôi khi nếm vị không ngon, không nên ăn vị ngon với sự tham đắm, và không nên biểu lộ sự chống đối đối với vị không ngon.”
Phassena phuṭṭho na sukhena majje, Dukkhena phuṭṭhopi na sampavedhe; Phassadvayaṁ sukhadukkhe upekkhe, Anānuruddho aviruddha kenaci.
Don’t be intoxicated by a pleasant touch, and don’t tremble at a painful touch. Look with equanimity at the duality <j>of pleasant and painful contacts, without favoring or opposing anything.
“Khi được xúc chạm bởi lạc, không nên say đắm; khi được xúc chạm bởi khổ, cũng không nên dao động. Nên xả đối với cả hai loại xúc, lạc và khổ, không thuận theo cũng không chống đối với bất cứ điều gì.”
Papañcasaññā itarītarā narā, Papañcayantā upayanti saññino; Manomayaṁ gehasitañca sabbaṁ, Panujja nekkhammasitaṁ irīyati.
People generally let their perceptions proliferate; perceiving and proliferating, they are attracted. Casting aside all mental constructions <j>of the domestic life, wander intent on renunciation.
“Những người phàm phu có tưởng, khi hý luận, họ đi đến với các tưởng hý luận. Sau khi loại bỏ tất cả những gì do ý tạo ra, liên hệ đến gia đình, người ấy hành động với sự liên hệ đến xuất gia.”
Evaṁ mano chassu yadā subhāvito, Phuṭṭhassa cittaṁ na vikampate kvaci; Te rāgadose abhibhuyya bhikkhavo, Bhavattha jātimaraṇassa pāragā”ti.
Paṭhamaṁ.
When the mind is well developed like this <j>regarding the six, it doesn’t waver at contacts at all. Mendicants, those who have mastered greed and hate go beyond birth and death.”
“Như vậy, khi ý được khéo tu tập trong sáu (xứ), tâm của người được xúc chạm không dao động ở bất cứ đâu. Này các Tỳ khưu, những vị ấy, sau khi chế ngự tham và sân, trở thành những người đi đến bờ kia của sanh và tử.” (Hết phẩm thứ nhất).