- Saṁyutta Nikāya 35.93
- 9. Channavagga
Bản dịch
SN 35.93 — Dutiyadvayasutta
Dutiyadvayasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?
Vi-n 3 Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được? Do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
Vi-n 4 Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức …
Vi-n 5 Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức …
Vi-n 6 Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức …
Vi-n 7 Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức …
Vi-n 8 Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý xúc. Ý xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân gì, duyên gì khiến ý xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý xúc khởi lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường còn được? Này các Tỷ-kheo, do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi khác.
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện hữu.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.93
- 9. With Channa
A Duality (2nd)
10. Bài kinh Song Đôi, kinh thứ hai
“Dvayaṁ, bhikkhave, paṭicca viññāṇaṁ sambhoti. Kathañca, bhikkhave, dvayaṁ paṭicca viññāṇaṁ sambhoti?
Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ. Cakkhu aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi. Rūpā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi. Cakkhuviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi. Yopi hetu yopi paccayo cakkhuviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ cakkhuviññāṇaṁ kuto niccaṁ bhavissati.
Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati cakkhusamphasso. Cakkhusamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Yopi hetu yopi paccayo cakkhusamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno cakkhusamphasso kuto nicco bhavissati.
Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti. Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino …pe…
“Mendicants, consciousness originates dependent on a duality. And what is that duality?
Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The eye is impermanent, decaying, and perishing. Sights are impermanent, decaying, and perishing. So this duality is tottering and toppling; it’s impermanent, decaying, and perishing. Eye consciousness is impermanent, decaying, and perishing. And the causes and reasons that give rise to eye consciousness are also impermanent, decaying, and perishing. But since eye consciousness has arisen dependent on conditions that are impermanent, how could it be permanent?
The meeting, coming together, and joining together of these three things is called eye contact. Eye contact is also impermanent, decaying, and perishing. And the causes and reasons that give rise to eye contact are also impermanent, decaying, and perishing. But since eye contact has arisen dependent on conditions that are impermanent, how could it be permanent?
Contacted one feels; contacted one intends; contacted one perceives. So these things too are tottering and toppling; they’re impermanent, decaying, and perishing.
93. “Này các Tỳ khưu, do duyên hai pháp mà thức sanh khởi. Và này các Tỳ khưu, do duyên hai pháp mà thức sanh khởi là như thế nào? Do duyên con mắt và các sắc mà nhãn thức sanh khởi. Con mắt là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Các sắc là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Như vậy, hai pháp này vừa dao động, vừa bị phiền não, là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Nhãn thức là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của nhãn thức, nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Này các Tỳ khưu, do duyên vào một duyên vô thường mà sanh khởi, làm sao nhãn thức có thể là thường được! Này các Tỳ khưu, sự gặp gỡ, sự hội họp, sự hòa hợp của ba pháp này, đây được gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của nhãn xúc, nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Này các Tỳ khưu, do duyên vào một duyên vô thường mà sanh khởi, làm sao nhãn xúc có thể là thường được! Này các Tỳ khưu, do có xúc chạm nên cảm thọ, do có xúc chạm nên tư duy, do có xúc chạm nên tưởng tri. Như vậy, các pháp này cũng vừa dao động, vừa bị phiền não, là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Tai... vân vân...”
Jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ. Jivhā aniccā vipariṇāmī aññathābhāvī. Rasā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi. Jivhāviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi. Yopi hetu yopi paccayo jivhāviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ jivhāviññāṇaṁ, kuto niccaṁ bhavissati. Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati jivhāsamphasso. Jivhāsamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Yopi hetu yopi paccayo jivhāsamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno jivhāsamphasso, kuto nicco bhavissati. Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti. Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino …pe…
Ear consciousness … Nose consciousness … Tongue consciousness … Body consciousness …
“Do duyên cái lưỡi và các vị mà thiệt thức sanh khởi. Cái lưỡi là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Các vị là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Như vậy, hai pháp này vừa dao động, vừa bị phiền não, là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Thiệt thức là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của thiệt thức, nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Này các Tỳ khưu, do duyên vào một duyên vô thường mà sanh khởi, làm sao thiệt thức có thể là thường được! Này các Tỳ khưu, sự gặp gỡ, sự hội họp, sự hòa hợp của ba pháp này, đây được gọi là thiệt xúc. Thiệt xúc cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của thiệt xúc, nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Này các Tỳ khưu, do duyên vào một duyên vô thường mà sanh khởi, làm sao thiệt xúc có thể là thường được! Này các Tỳ khưu, do có xúc chạm nên cảm thọ, do có xúc chạm nên tư duy, do có xúc chạm nên tưởng tri. Như vậy, các pháp này cũng vừa dao động, vừa bị phiền não, là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Thân... vân vân...”
Manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ. Mano anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Dhammā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino. Itthetaṁ dvayaṁ calañceva byathañca aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi. Manoviññāṇaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi. Yopi hetu yopi paccayo manoviññāṇassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppannaṁ manoviññāṇaṁ, kuto niccaṁ bhavissati.
Yā kho, bhikkhave, imesaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ saṅgati sannipāto samavāyo, ayaṁ vuccati manosamphasso. Manosamphassopi anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Yopi hetu yopi paccayo manosamphassassa uppādāya, sopi hetu sopi paccayo anicco vipariṇāmī aññathābhāvī. Aniccaṁ kho pana, bhikkhave, paccayaṁ paṭicca uppanno manosamphasso, kuto nicco bhavissati.
Phuṭṭho, bhikkhave, vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho sañjānāti. Itthetepi dhammā calā ceva byathā ca aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
Evaṁ kho, bhikkhave, dvayaṁ paṭicca viññāṇaṁ sambhotī”ti.
Dasamaṁ.
Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The mind is impermanent, decaying, and perishing. Ideas are impermanent, decaying, and perishing. So this duality is tottering and toppling; it’s impermanent, decaying, and perishing. Mind consciousness is impermanent, decaying, and perishing. And the causes and reasons that give rise to mind consciousness are also impermanent, decaying, and perishing. But since mind consciousness has arisen dependent on conditions that are impermanent, how could it be permanent?
The meeting, coming together, and joining together of these three things is called mind contact. Mind contact is also impermanent, decaying, and perishing. And the causes and reasons that give rise to mind contact are also impermanent, decaying, and perishing. But since mind contact has arisen dependent on conditions that are impermanent, how could it be permanent?
Contacted one feels; contacted one intends; contacted one perceives. So these things too are tottering and toppling; they’re impermanent, decaying, and perishing.
This is how consciousness originates dependent on a duality.”
“Do duyên ý và các pháp mà ý thức sanh khởi. Ý là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Các pháp là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Như vậy, hai pháp này vừa dao động, vừa bị phiền não, là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Ý thức là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của ý thức, nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Này các Tỳ khưu, do duyên vào một duyên vô thường mà sanh khởi, làm sao ý thức có thể là thường được! Này các Tỳ khưu, sự gặp gỡ, sự hội họp, sự hòa hợp của ba pháp này, đây được gọi là ý xúc. Ý xúc cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của ý xúc, nhân ấy, duyên ấy cũng là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Này các Tỳ khưu, do duyên vào một duyên vô thường mà sanh khởi, làm sao ý xúc có thể là thường được! Này các Tỳ khưu, do có xúc chạm nên cảm thọ, do có xúc chạm nên tư duy, do có xúc chạm nên tưởng tri. Như vậy, các pháp này cũng vừa dao động, vừa bị phiền não, là vô thường, có tính biến hoại, có tính trở thành khác. Này các Tỳ khưu, như vậy, do duyên hai pháp mà thức sanh khởi.”
Channavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Channa, thứ chín.
Palokasuññā saṅkhittaṁ, channo puṇṇo ca bāhiyo; Ejena ca duve vuttā, dvayehi apare duveti.
Kinh Tan Hoại, kinh Không, kinh Tóm Tắt, kinh Channa, kinh Puṇṇa, và kinh Bāhiya; hai kinh được thuyết về sự dao động, và hai kinh khác về hai pháp.