- Saṁyutta Nikāya 35.92
- 9. Channavagga
Bản dịch
SN 35.92 — Paṭhamadvayasutta
Paṭhamadvayasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về cả hai. Hãy lắng nghe. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cả hai?
Vi-n 3 Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là cả hai.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi đoạn tận hai cái này, tôi sẽ trình bày hai cái khác”; thời người ấy chỉ nói suông, nếu hỏi, người ấy không có thể chứng minh, còn có thể rơi vào ách nạn.
Vi-n 5 Vì sao? Vì rằng vấn đề ấy vượt ngoài phạm vi của người ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.92
- 9. With Channa
A Duality (1st)
9. Bài kinh Song Đôi, kinh thứ nhất
“Dvayaṁ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṁ suṇātha.
Kiñca, bhikkhave, dvayaṁ? Cakkhuñceva rūpā ca, sotañceva saddā ca, ghānañceva gandhā ca, jivhā ceva rasā ca, kāyo ceva phoṭṭhabbā ca, mano ceva dhammā ca—idaṁ vuccati, bhikkhave, dvayaṁ.
“Mendicants, I will teach you a duality. Listen …
And what is a duality? It’s just the eye and sights, the ear and sounds, the nose and smells, the tongue and tastes, the body and touches, and the mind and ideas. This is called a duality.
92. “Này các tỳ khưu, Ta sẽ thuyết cho các ngươi về pháp song đôi. Hãy lắng nghe điều ấy. Và này các tỳ khưu, thế nào là pháp song đôi? Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các mùi, lưỡi và các vị, thân và các vật xúc chạm, ý và các pháp – này các tỳ khưu, đây được gọi là pháp song đôi.”
Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya: ‘ahametaṁ dvayaṁ paccakkhāya aññaṁ dvayaṁ paññapessāmī’ti, tassa vācāvatthukamevassa. Puṭṭho ca na sampāyeyya. Uttariñca vighātaṁ āpajjeyya. Taṁ kissa hetu? Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmin”ti.
Navamaṁ.
Mendicants, suppose someone was to say: ‘I’ll deny this duality and describe another duality.’ They’d have no grounds for that claim, they’d be stumped by questions, and, in addition, they’d get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element.”
“Này các tỳ khưu, nếu có ai nói rằng: 'Sau khi từ bỏ pháp song đôi này, tôi sẽ chế định một pháp song đôi khác', thì lời nói của người ấy chỉ là lời nói suông. Khi được hỏi, người ấy sẽ không thể giải thích được, và hơn nữa sẽ đi đến phiền não. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì điều ấy không thuộc phạm vi của người ấy.” Hết bài kinh thứ chín.