- Saṁyutta Nikāya 35.91
- 9. Channavagga
Bản dịch
SN 35.91 — Dutiyaejāsutta
Dutiyaejāsutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật, ái nhiễm là mụt nhọt, ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.
Vi-n 3 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có mong ước, hãy mong ước không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.
Vi-n 4-6. Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của ta”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của ta”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức … Chớ có nghĩ đến nhãn xúc … Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: “Cái gì là của ta”, từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh (Bhavasatto), nên thế giới hoan hỷ tái sanh … tai … mũi …
Vi-n 7-8. … lưỡi … thân …
Vi-n 9 Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của ta”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của ta”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của ta”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của ta”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: “Cái gì là của ta”, từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh, nên thế giới hoan hỷ tái sanh.
Này các Tỷ-kheo, cho đến uẩn, giới, xứ … chớ có nghĩ đến cái ấy, chớ có nghĩ đến trong cái ấy, chớ có nghĩ đến từ cái ấy, chớ có nghĩ đến: “Cái ấy là của ta”. Vị ấy không nghĩ đến như vậy nên không chấp thủ một cái gì trong đời. Do không chấp thủ nên không có dao động. Do không có dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.91
- 9. With Channa
Turbulence (2nd)
8. Bài kinh Rung Động, kinh thứ hai
“Ejā, bhikkhave, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, tathāgato anejo viharati vītasallo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya ‘anejo vihareyyaṁ vītasallo’ti,
cakkhuṁ na maññeyya, cakkhusmiṁ na maññeyya, cakkhuto na maññeyya, cakkhu meti na maññeyya; rūpe na maññeyya … cakkhuviññāṇaṁ … cakkhusamphassaṁ … yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya. Yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṁ maññati, yato maññati, yaṁ meti maññati, tato taṁ hoti aññathā. Aññathābhāvī bhavasatto loko bhavameva abhinandati …pe….
“Mendicants, turbulence is a disease, a boil, a dart. That’s why the Realized One lives unperturbed, with dart drawn out.
Now, a mendicant might wish: ‘May I live unperturbed, with dart drawn out.’
So let them not conceive anything to be the eye, let them not conceive it in the eye, let them not conceive it as the eye, let them not conceive that ‘the eye is mine.’ Let them not conceive sights … eye consciousness … eye contact … Let them not conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on eye contact. Let them not conceive it in that, let them not conceive it as that, and let them not conceive that ‘that is mine.’ For whatever you conceive it to be, whatever you conceive it in, whatever you conceive it as, and whatever you conceive to be ‘mine’: that becomes something else. The world is attached to being, taking pleasure only in being, yet it becomes something else.
91. “Này các tỳ khưu, sự rung động là bệnh, sự rung động là ung nhọt, sự rung động là mũi tên. Do vậy, này các tỳ khưu, Như Lai trú không rung động, không có mũi tên. Do vậy, này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mong muốn: 'Mong rằng ta sẽ trú không rung động, không có mũi tên', thì không nên tưởng tri về mắt, không nên tưởng tri ở nơi mắt, không nên tưởng tri từ mắt, không nên tưởng tri 'mắt là của ta'; không nên tưởng tri về các sắc... nhãn thức... nhãn xúc... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên nhãn xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cũng không nên tưởng tri về cảm thọ ấy, không nên tưởng tri ở nơi cảm thọ ấy, không nên tưởng tri từ cảm thọ ấy, không nên tưởng tri 'cảm thọ ấy là của ta'. Này các tỳ khưu, cái gì mà vị ấy tưởng tri, ở nơi nào mà vị ấy tưởng tri, từ đâu mà vị ấy tưởng tri, cái gì mà vị ấy tưởng tri 'là của ta', thì cái ấy trở thành khác đi. Chúng sanh trong thế gian có bản chất biến đổi, bị dính mắc vào hữu, chỉ hoan hỷ trong hữu mà thôi... Tương tự...
Jivhaṁ na maññeyya, jivhāya na maññeyya, jivhāto na maññeyya, jivhā meti na maññeyya; rase na maññeyya … jivhāviññāṇaṁ … jivhāsamphassaṁ … yampidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya. Yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṁ maññati, yato maññati, yaṁ meti maññati, tato taṁ hoti aññathā. Aññathābhāvī bhavasatto loko bhavameva abhinandati …pe….
Let them not conceive anything to be the ear … nose … tongue … body …
“Không nên tưởng tri về lưỡi, không nên tưởng tri ở nơi lưỡi, không nên tưởng tri từ lưỡi, không nên tưởng tri 'lưỡi là của ta'; không nên tưởng tri về các vị... thiệt thức... thiệt xúc... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên thiệt xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cũng không nên tưởng tri về cảm thọ ấy, không nên tưởng tri ở nơi cảm thọ ấy, không nên tưởng tri từ cảm thọ ấy, không nên tưởng tri 'cảm thọ ấy là của ta'. Này các tỳ khưu, cái gì mà vị ấy tưởng tri, ở nơi nào mà vị ấy tưởng tri, từ đâu mà vị ấy tưởng tri, cái gì mà vị ấy tưởng tri 'là của ta', thì cái ấy trở thành khác đi. Chúng sanh trong thế gian có bản chất biến đổi, bị dính mắc vào hữu, chỉ hoan hỷ trong hữu mà thôi... Tương tự...
Manaṁ na maññeyya, manasmiṁ na maññeyya, manato na maññeyya, mano meti na maññeyya … manoviññāṇaṁ … manosamphassaṁ … yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya. Yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṁ maññati, yato maññati, yaṁ meti maññati, tato taṁ hoti aññathā. Aññathābhāvī bhavasatto loko bhavameva abhinandati.
Let them not conceive anything to be the mind … mind consciousness … mind contact … Let them not conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on mind contact. Let them not conceive it in that, let them not conceive it as that, and let them not conceive that ‘that is mine.’ For whatever you conceive it to be, whatever you conceive it in, whatever you conceive it as, and whatever you conceive to be ‘mine’: that becomes something else. The world is attached to being, taking pleasure only in being, yet it becomes something else.
“Không nên tưởng tri về ý, không nên tưởng tri ở nơi ý, không nên tưởng tri từ ý, không nên tưởng tri 'ý là của ta'... ý thức... ý xúc... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cũng không nên tưởng tri về cảm thọ ấy, không nên tưởng tri ở nơi cảm thọ ấy, không nên tưởng tri từ cảm thọ ấy, không nên tưởng tri 'cảm thọ ấy là của ta'. Này các tỳ khưu, cái gì mà vị ấy tưởng tri, ở nơi nào mà vị ấy tưởng tri, từ đâu mà vị ấy tưởng tri, cái gì mà vị ấy tưởng tri 'là của ta', thì cái ấy trở thành khác đi. Chúng sanh trong thế gian có bản chất biến đổi, bị dính mắc vào hữu, chỉ hoan hỷ trong hữu mà thôi.”
Yāvatā, bhikkhave, khandhadhātuāyatanā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya.
So evaṁ amaññamāno na kiñci loke upādiyati. Anupādiyaṁ na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
As far as the aggregates, elements, and sense fields extend, they don’t conceive anything to be that, they don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’
Not conceiving, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Này các tỳ khưu, bao nhiêu có uẩn, giới, và xứ, cũng không nên tưởng tri về chúng, không nên tưởng tri ở nơi chúng, không nên tưởng tri từ chúng, không nên tưởng tri 'chúng là của ta'. Vị ấy, do không tưởng tri như vậy, nên không chấp thủ bất cứ gì ở đời. Do không chấp thủ nên không run sợ. Do không run sợ nên tự mình tịch tịnh Niết-bàn. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'.” Hết bài kinh thứ tám.