- Saṁyutta Nikāya 35.90
- 9. Channavagga
Bản dịch
SN 35.90 — Kinh Rung Động (thứ nhất)
Paṭhamaejāsutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Vi-n 3 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Vi-n 4 Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: “Nhãn thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: “Nhãn xúc là của tôi”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là tôi”.
Vi-n 5-6. Chớ có nghĩ đến tai … Chớ có nghĩ đến mũi …
Vi-n 7-8. Chớ có nghĩ đến lưỡi … Chớ có nghĩ đến thân …
Vi-n 9 Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của tôi”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của tôi”.
Vi-n 10 Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: “Tất cả là của tôi”.
Vi-n 11 Vị ấy do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.90
- 9. With Channa
Turbulence (1st)
7. Kinh Rung Động (thứ nhất)
“Ejā, bhikkhave, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, tathāgato anejo viharati vītasallo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya ‘anejo vihareyyaṁ vītasallo’ti,
cakkhuṁ na maññeyya, cakkhusmiṁ na maññeyya, cakkhuto na maññeyya, cakkhu meti na maññeyya; rūpe na maññeyya, rūpesu na maññeyya, rūpato na maññeyya, rūpā meti na maññeyya; cakkhuviññāṇaṁ na maññeyya, cakkhuviññāṇasmiṁ na maññeyya, cakkhuviññāṇato na maññeyya, cakkhuviññāṇaṁ meti na maññeyya; cakkhusamphassaṁ na maññeyya, cakkhusamphassasmiṁ na maññeyya, cakkhusamphassato na maññeyya, cakkhusamphasso meti na maññeyya. Yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya.
“Mendicants, turbulence is a disease, a boil, a dart. That’s why the Realized One lives unperturbed, with dart drawn out.
Now, a mendicant might wish: ‘May I live unperturbed, with dart drawn out.’
So let them not conceive anything to be the eye, let them not conceive it in the eye, let them not conceive it as the eye, let them not conceive that ‘the eye is mine.’ Let them not conceive sights … eye consciousness … eye contact … Let them not conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on eye contact. Let them not conceive it in that, let them not conceive it as that, and let them not conceive that ‘that is mine.’
90. Này các tỳ khưu, sự rung động là bệnh tật, sự rung động là khối u, sự rung động là mũi tên. Vì vậy, này các tỳ khưu, Như Lai trú không rung động, không có mũi tên. Do đó, này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mong muốn: 'Mong rằng ta trú không rung động, không có mũi tên', thì vị ấy không nên quan niệm về con mắt, không nên quan niệm trong con mắt, không nên quan niệm từ con mắt, không nên quan niệm 'con mắt là của ta'; không nên quan niệm về các sắc, không nên quan niệm trong các sắc, không nên quan niệm từ các sắc, không nên quan niệm 'các sắc là của ta'; không nên quan niệm về nhãn thức, không nên quan niệm trong nhãn thức, không nên quan niệm từ nhãn thức, không nên quan niệm 'nhãn thức là của ta'; không nên quan niệm về nhãn xúc, không nên quan niệm trong nhãn xúc, không nên quan niệm từ nhãn xúc, không nên quan niệm 'nhãn xúc là của ta'. Và cảm thọ nào khởi lên do duyên nhãn xúc, dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc, vị ấy cũng không nên quan niệm về nó, không nên quan niệm trong nó, không nên quan niệm từ nó, không nên quan niệm 'nó là của ta'.
Sotaṁ na maññeyya …pe… ghānaṁ na maññeyya …pe… jivhaṁ na maññeyya, jivhāya na maññeyya, jivhāto na maññeyya, jivhā meti na maññeyya; rase na maññeyya …pe… jivhāviññāṇaṁ na maññeyya …pe… jivhāsamphassaṁ na maññeyya …pe… yampidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññeyya, tasmimpi na maññeyya, tatopi na maññeyya, taṁ meti na maññeyya.
Let them not conceive anything to be the ear … nose … tongue …
“Không nên tưởng tri về tai... Tương tự... không nên tưởng tri về mũi... Tương tự... không nên tưởng tri về lưỡi, không nên tưởng tri ở nơi lưỡi, không nên tưởng tri từ lưỡi, không nên tưởng tri 'lưỡi là của ta'; không nên tưởng tri về các vị... Tương tự... không nên tưởng tri về thiệt thức... Tương tự... không nên tưởng tri về thiệt xúc... Tương tự... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên thiệt xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cũng không nên tưởng tri về cảm thọ ấy, không nên tưởng tri ở nơi cảm thọ ấy, không nên tưởng tri từ cảm thọ ấy, không nên tưởng tri 'cảm thọ ấy là của ta'.
sabbaṁ na maññeyya, sabbasmiṁ na maññeyya, sabbato na maññeyya, sabbaṁ meti na maññeyya.
Let them not conceive anything to be all, let them not conceive it in all, let them not conceive it as all, let them not conceive that ‘all is mine’.
“Không nên tưởng tri về thân... Tương tự... không nên tưởng tri về ý, không nên tưởng tri ở nơi ý, không nên tưởng tri từ ý, không nên tưởng tri 'ý là của ta'; không nên tưởng tri về các pháp... Tương tự... ý thức... Tương tự... ý xúc... Tương tự... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cũng không nên tưởng tri về cảm thọ ấy, không nên tưởng tri ở nơi cảm thọ ấy, không nên tưởng tri từ cảm thọ ấy, không nên tưởng tri 'cảm thọ ấy là của ta'; không nên tưởng tri về tất cả, không nên tưởng tri ở nơi tất cả, không nên tưởng tri từ tất cả, không nên tưởng tri 'tất cả là của ta'.
So evaṁ amaññamāno na kiñcipi loke upādiyati. Anupādiyaṁ na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.
Not conceiving, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Vị ấy, do không tưởng tri như vậy, nên không chấp thủ bất cứ gì ở đời. Do không chấp thủ nên không run sợ. Do không run sợ nên tự mình tịch tịnh Niết-bàn. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'.” Hết bài kinh thứ bảy.