- Saṁyutta Nikāya 35.74
- 8. Gilānavagga
Bản dịch
SN 35.74 — Kinh Bệnh (Thứ Nhất)
Paṭhamagilānasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Trong tịnh xá của chúng con, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo ít người biết đến, bị bệnh hoạn, đau đớn, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến Tỷ-kheo ấy vì lòng từ mẫn.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn sau khi nghe tiếng “Mới”, nghe tiếng “Bệnh”, khi biết được: “Tỷ-kheo ấy ít được người biết đến” liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 5 Tỷ-kheo ấy thấy đức Phật từ xa đi đến, sau khi thấy, liền gượng dậy trên giường.
Vi-n 6 Thế Tôn liền nói với Tỷ-kheo ấy:
—Thôi! Này Tỷ-kheo, Ông chớ có gượng dậy trên giường. Có những chỗ ngồi đã soạn sẵn, tại đấy Ta sẽ ngồi.
Rồi Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.
Vi-n 7 Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy:
—Này Tỷ-kheo, Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
—Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, không thể chịu đựng. Mãnh liệt là khổ thọ con cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Vi-n 8 —Này Tỷ-kheo, mong rằng Ông không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.
—Bạch Thế Tôn, chắc chắn con không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.
Vi-n 9 —Nhưng đối với giới của mình, Ông có gì tự khiển trách không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Này Tỷ-kheo, nếu đối với giới của mình Ông không có gì để khiển trách, thời này Tỷ-kheo, Ông thế nào cũng có nghi ngờ đối với vấn đề gì, cũng có hối hận gì.
—Bạch Thế Tôn, con không hiểu pháp Thế Tôn dạy về mục đích thanh tịnh trì giới.
Vi-n 11 —Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục đích thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy như thế nào?
—Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp do Thế Tôn dạy là tham và đoạn tham.
Vi-n 12 —Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là tham và đoạn tham. Với mục đích tham và đoạn tham, này Tỷ-kheo, là pháp Ta dạy.
Vi-n 13 Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn …
—Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Ý là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 14 —Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … “ … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 15 Thế Tôn thuyết như vậy, Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, Tỷ-kheo ấy khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: “Phàm cái gì sanh khởi, tất cả đều chịu sự đoạn diệt”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.74
- 8. Sick
Sick (1st)
1. Kinh Bệnh (Thứ Nhất)
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “amukasmiṁ, bhante, vihāre aññataro bhikkhu navo appaññāto ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. Sādhu, bhante, bhagavā yena so bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
At Sāvatthī.
Then a mendicant went up to the Buddha, and said to him, “Sir, in such-and-such monastery there’s a mendicant who is junior and not well-known. He’s sick, suffering, gravely ill. Please go to him out of sympathy.”
74. Nhân duyên ở Sāvatthī. Rồi một Tỳ khưu đi đến Thế Tôn... ngồi xuống một bên, Tỳ khưu ấy bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, tại trú xứ kia, có một Tỳ khưu mới, không được biết đến, bị bệnh, khổ não, bệnh nặng. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà đi đến Tỳ khưu ấy.”
Atha kho bhagavā navavādañca sutvā gilānavādañca, “appaññāto bhikkhū”ti iti viditvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami. Addasā kho so bhikkhu bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna mañcake samadhosi.
Atha kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: “alaṁ, bhikkhu, mā tvaṁ mañcake samadhosi. Santimāni āsanāni paññattāni, tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: “kacci te, bhikkhu, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti no abhikkamanti, paṭikkamosānaṁ paññāyati no abhikkamo”ti?
When the Buddha heard that the mendicant was junior and ill, understanding that he was not well-known, he went to him. That mendicant saw the Buddha coming off in the distance and stirred in his cot.
The Buddha said to that monk, “It’s all right, mendicant, don’t get up. There are some seats spread out, I will sit there.”
He sat down on the seat spread out and said to the mendicant, “I hope you’re keeping well, mendicant, I hope you’re all right. I hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.”
Rồi Thế Tôn, khi nghe lời nói về vị Tỳ khưu mới và lời nói về vị Tỳ khưu bệnh, và biết rằng “vị Tỳ khưu ấy không được biết đến”, Ngài đã đi đến chỗ Tỳ khưu ấy. Tỳ khưu ấy thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy vậy, vị ấy cựa mình trên giường. Rồi Thế Tôn nói với Tỳ khưu ấy: “Thôi, này Tỳ khưu, thầy đừng cựa mình trên giường. Có những chỗ ngồi đã được soạn sẵn, Ta sẽ ngồi ở đó.” Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tỳ khưu ấy: “Này Tỳ khưu, thầy có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không? Các cảm thọ khổ có thuyên giảm, không tăng trưởng không? Sự thuyên giảm của chúng có được nhận thấy, và sự tăng trưởng không được nhận thấy không?”
“Na me, bhante, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo”ti.
“Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
“Bạch Thế Tôn, con không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ khổ của con tăng trưởng mạnh, không thuyên giảm. Sự tăng trưởng của chúng được nhận thấy, và sự thuyên giảm không được nhận thấy.”
“Kacci te, bhikkhu, na kiñci kukkuccaṁ, na koci vippaṭisāro”ti?
“I hope you don’t have any remorse or regret?”
“Này Tỳ khưu, thầy không có chút hối hận nào, không có chút ăn năn nào chứ?”
“Taggha me, bhante, anappakaṁ kukkuccaṁ, anappako vippaṭisāro”ti.
“Indeed, sir, I have no little remorse and regret.”
“Bạch Thế Tôn, quả thật con có không ít hối hận, không ít ăn năn.”
“Kacci pana taṁ, bhikkhu, attā sīlato upavadatī”ti?
“I hope you have no reason to blame yourself when it comes to ethical conduct?”
“Này Tỳ khưu, nhưng có phải tự thân thầy khiển trách thầy về mặt giới hạnh không?”
“Na kho maṁ, bhante, attā sīlato upavadatī”ti.
“No sir, I have no reason to blame myself when it comes to ethical conduct.”
“Bạch Thế Tôn, tự thân con không khiển trách con về mặt giới hạnh.”
“No ce kira te, bhikkhu, attā sīlato upavadati, atha kiñca te kukkuccaṁ ko ca vippaṭisāro”ti?
“In that case, mendicant, why do you have remorse and regret?”
Này Tỳ khưu, nếu tự ông không khiển trách ông về giới hạnh, vậy thì ông còn có điều gì hối tiếc và điều gì hối hận?
“Na khvāhaṁ, bhante, sīlavisuddhatthaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmī”ti.
“No ce kira tvaṁ, bhikkhu, sīlavisuddhatthaṁ mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsi, atha kimatthaṁ carahi tvaṁ, bhikkhu, mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsī”ti?
“Because I understand that the Buddha has not taught the Dhamma merely for the sake of ethical purity.”
“If that is so, what then do you understand to be the purpose of teaching the Dhamma?”
Bạch Thế Tôn, con không hiểu rằng pháp do Thế Tôn thuyết giảng là vì mục đích giới thanh tịnh.
“Rāgavirāgatthaṁ khvāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmī”ti.
“I understand that the Buddha has taught the Dhamma for the purpose of the fading away of greed.”
Bạch Thế Tôn, con hiểu rằng pháp do Thế Tôn thuyết giảng là vì mục đích Vô thủ trước Niết-bàn.
“Sādhu sādhu, bhikkhu. Sādhu kho tvaṁ, bhikkhu, rāgavirāgatthaṁ mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsi.
“Good, good, mendicant! It’s good that you understand that I’ve taught the Dhamma for the purpose of the fading away of greed.
Lành thay, lành thay, này Tỳ khưu! Lành thay, này Tỳ khưu, ông hiểu rằng pháp do ta thuyết giảng là vì mục đích Vô thủ trước Niết-bàn. Này Tỳ khưu, pháp do ta thuyết giảng quả thật là vì mục đích Vô thủ trước Niết-bàn.
Này Tỳ khưu, nếu ông không hiểu rằng pháp do ta thuyết giảng là vì mục đích giới thanh tịnh, vậy thì, này Tỳ khưu, ông hiểu rằng pháp do ta thuyết giảng là vì mục đích gì?
Này Tỳ khưu, ông nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường?
“Aniccaṁ, bhante”.
“ …pe… Sotaṁ … ghānaṁ … jivhā … kāyo … mano nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Impermanent, sir.” …
“Is the ear … nose … tongue … body … mind permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
Bạch Thế Tôn, là vô thường.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bạch Thế Tôn, là khổ.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, có đáng để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bạch Thế Tôn, không đáng.
“Evaṁ passaṁ, bhikkhu, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, sotasmimpi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended … there is nothing further for this place.’”
Này Tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với mắt… đối với ý… đối với ý thức… đối với ý xúc. Vị ấy cũng nhàm chán đối với cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc—dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; trong sự giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’.
Idamavoca bhagavā. Attamano so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinandi. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne tassa bhikkhuno virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Paṭhamaṁ.
That is what the Buddha said. Satisfied, that mendicant approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in that mendicant:
“Everything that is liable to arise is liable to cease.”
Thế Tôn đã nói như vậy. Vị Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. Và trong khi bài pháp này đang được thuyết giảng, tâm của vị Tỳ khưu ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. (Kinh thứ hai)