- Saṁyutta Nikāya 35.73
- 7. Migajālavagga
Bản dịch
SN 35.73 — Tatiyachaphassāyatanasutta
Tatiyachaphassāyatanasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.
Vi-n 3 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con thất vọng. Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.
Vi-n 4-6. —Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 5-8. —Tai … Mũi … Lưỡi … Thân …
Vi-n 9 Ý là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.73
- 7. With Migajāla
Six Fields of Contact (3rd)
11. Bài Kinh Về Sáu Xứ Xúc (Thứ Ba)
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Avusitaṁ tena brahmacariyaṁ, ārakā so imasmā dhammavinayā”ti.
“Mendicants, anyone who doesn’t truly understand the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape has not completed the spiritual journey and is far from this teaching and training.”
73. “Này các Tỳ khưu, bất kỳ Tỳ khưu nào không như thật tuệ tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của sáu xứ xúc. Vị ấy chưa sống đời phạm hạnh, vị ấy xa rời Pháp và Luật này.”
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “etthāhaṁ, bhante, anassasaṁ panassasaṁ. Ahañhi, bhante, channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāmī”ti.
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Here, sir, I’m discouraged, really discouraged. For I don’t truly understand the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape.”
Khi được nói vậy, một Tỳ khưu bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, ở đây con bị hủy hoại, con bị hủy hoại. Bạch Thế Tôn, con không như thật tuệ tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của sáu xứ xúc.”
“Taṁ kiṁ maññasi, bhikkhu, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“What do you think, mendicant? Is the eye permanent or impermanent?”
“Này Tỳ khưu, thầy nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, cái đó là khổ hay lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng để xem xét nó rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?”
“No hetaṁ, bhante”.
“Sotaṁ … ghānaṁ … jivhā … kāyo …
“No, sir.”
“Is the ear … nose … tongue … body …
“Bạch Thế Tôn, không hợp lý.”
“Tai… mũi… lưỡi… thân… ý là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, cái đó là khổ hay lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng để xem xét nó rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không hợp lý.”
“Evaṁ passaṁ, bhikkhu, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, sotasmimpi nibbindati, ghānasmimpi nibbindati, jivhāyapi nibbindati, kāyasmimpi nibbindati, manasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Ekādasamaṁ.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Này Tỳ khưu, thấy như vậy, vị Thánh đệ tử đa văn nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; trong sự giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy tuệ tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’.” Kinh thứ mười một.
Migajālavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Migajāla, thứ bảy.
Migajālena dve vuttā, Cattāro ca samiddhinā; Upaseno upavāṇo, Chaphassāyatanikā tayoti.
Hai kinh về Migajāla, và bốn kinh về Samiddhi; Upasena, Upavāṇa, và ba kinh về Sáu Xứ Xúc.