- Saṁyutta Nikāya 35.72
- 7. Migajālavagga
Bản dịch
SN 35.72 — Dutiyachaphassāyatanasutta
Dutiyachaphassāyatanasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.
Vi-n 3 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con thất vọng. Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.
Vi-n 4-6. —Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy con mắt với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Như vậy là khéo thấy; như vậy xúc xứ thứ nhứt này sẽ được Ông đoạn tận, không còn tái sanh nữa trong tương lai … tai … mũi …
Vi-n 7-8.… lưỡi … thân …
Vi-n 9 Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy ý với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Như vậy xúc xứ thứ sáu này sẽ được Ông đoạn tận, không còn tái sanh nữa trong tương lai.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.72
- 7. With Migajāla
Six Fields of Contact (2nd)
10. Bài Kinh Về Sáu Xứ Xúc (Thứ Hai)
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Avusitaṁ tena brahmacariyaṁ, ārakā so imasmā dhammavinayā”ti.
“Mendicants, anyone who doesn’t truly understand the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape has not completed the spiritual journey and is far from this teaching and training.”
72. “Này các tỳ khưu, bất cứ vị tỳ khưu nào không biết rõ như thật về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự giải thoát của sáu xứ xúc. Vị ấy chưa sống đời sống phạm hạnh, vị ấy còn xa rời Pháp và Luật này.”
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “etthāhaṁ, bhante, anassasaṁ panassasaṁ. Ahañhi, bhante, channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāmī”ti.
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Here, sir, I’m discouraged, really discouraged. For I don’t truly understand the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape.”
Khi được nói như vậy, một vị tỳ khưu đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, ở đây con đã tuyệt vọng, lại càng tuyệt vọng. Bạch ngài, vì con không biết rõ như thật về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự giải thoát của sáu xứ xúc”.
“Taṁ kiṁ maññasi, bhikkhu, cakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“What do you think, mendicant? Do you regard the eye like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”
“Yes, sir.”
“Này tỳ khưu, thầy nghĩ thế nào về điều này, thầy có xem xét con mắt là ‘cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’ không?”
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, cakkhu ‘netaṁ mama, nesohamasmi na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati. Evaṁ te etaṁ paṭhamaṁ phassāyatanaṁ pahīnaṁ bhavissati āyatiṁ apunabbhavāya …pe….
“Good, mendicant! And regarding the eye, you will truly see clearly with right wisdom that: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ In this way you will give up the first field of contact, so that there are no more future lives.
“Lành thay, này tỳ khưu! Này tỳ khưu, ở đây, con mắt sẽ được thầy thấy rõ bằng chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Như vậy, xứ xúc thứ nhất này sẽ được thầy từ bỏ để không còn tái sanh trong tương lai... vân vân...
“Jivhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
Do you regard the ear … nose … tongue … body …
“Thầy có xem xét cái lưỡi là ‘cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’ không?”
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, jivhā ‘netaṁ mama, nesohamasmi na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati. Evaṁ te etaṁ catutthaṁ phassāyatanaṁ pahīnaṁ bhavissati āyatiṁ apunabbhavāya …pe….
“Lành thay, này tỳ khưu! Này tỳ khưu, ở đây, cái lưỡi sẽ được thầy thấy rõ bằng chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Như vậy, xứ xúc thứ tư này sẽ được thầy từ bỏ để không còn tái sanh trong tương lai... vân vân...
“Manaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
Do you regard the mind like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”
“Yes, sir.”
“Thầy có xem xét cái ý là ‘cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’ không?”
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, mano ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati. Evaṁ te etaṁ chaṭṭhaṁ phassāyatanaṁ pahīnaṁ bhavissati āyatiṁ apunabbhavāyā”ti.
Dasamaṁ.
“Good, mendicant! And regarding the mind, you will truly see clearly with right wisdom that: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ In this way you will give up the sixth field of contact, so that there are no more future lives.”
“Lành thay, này tỳ khưu! Này tỳ khưu, ở đây, cái ý sẽ được thầy thấy rõ bằng chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Như vậy, xứ xúc thứ sáu này sẽ được thầy từ bỏ để không còn tái sanh trong tương lai”. Hết bài kinh thứ mười.