- Saṁyutta Nikāya 35.71
- 7. Migajālavagga
Bản dịch
SN 35.71 — Paṭhamachaphassāyatanasutta
Paṭhamachaphassāyatanasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.
Vi-n 3 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con đã thất vọng (anassàsim). Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.
Vi-n 4-6. —Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy con mắt với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận … tai … mũi …
Vi-n 7-8. … lưỡi … thân …
Vi-n 9 Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy ý với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.71
- 7. With Migajāla
Six Fields of Contact (1st)
9. Bài Kinh Về Sáu Xứ Xúc (Thứ Nhất)
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāti. Avusitaṁ tena brahmacariyaṁ, ārakā so imasmā dhammavinayā”ti.
“Mendicants, anyone who doesn’t truly understand the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape has not completed the spiritual journey and is far from this teaching and training.”
71. “Này các tỳ khưu, bất cứ vị tỳ khưu nào không biết rõ như thật về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự giải thoát của sáu xứ xúc. Vị ấy chưa sống đời sống phạm hạnh, vị ấy còn xa rời Pháp và Luật này.”
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “etthāhaṁ, bhante, anassasaṁ. Ahañhi, bhante, channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānāmī”ti.
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Here, sir, I’m discouraged. For I don’t truly understand the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape.”
Khi được nói như vậy, một vị tỳ khưu đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, ở đây con đã tuyệt vọng. Bạch ngài, vì con không biết rõ như thật về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự giải thoát của sáu xứ xúc”.
“Taṁ kiṁ maññasi, bhikkhu, cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“What do you think, mendicant? Do you regard the eye like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Này tỳ khưu, thầy nghĩ thế nào về điều này, thầy có xem xét con mắt là ‘cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, không phải vậy.”
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, cakkhu ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati. Esevanto dukkhassa …pe…
jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
“Good, mendicant! And regarding the eye, you will truly see clearly with right wisdom that: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Just this is the end of suffering.
Do you regard the ear … nose … tongue … body …
“Lành thay, này tỳ khưu! Này tỳ khưu, ở đây, con mắt sẽ được thầy thấy rõ bằng chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Đây chính là sự chấm dứt khổ đau... vân vân... Thầy có xem xét cái lưỡi là ‘cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“Bạch ngài, không phải vậy.”
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, jivhā ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati. Esevanto dukkhassa …pe… manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassasī”ti?
Do you regard the mind like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Lành thay, này tỳ khưu! Này tỳ khưu, ở đây, cái lưỡi sẽ được thầy thấy rõ bằng chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Đây chính là sự chấm dứt khổ đau... vân vân... Thầy có xem xét cái ý là ‘cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, không phải vậy.”
“Sādhu, bhikkhu, ettha ca te, bhikkhu, mano ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ bhavissati. Esevanto dukkhassā”ti.
Navamaṁ.
“Good, mendicant! And regarding the mind, you will truly see clearly with right wisdom that: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Just this is the end of suffering.”
“Lành thay, này tỳ khưu! Này tỳ khưu, ở đây, cái ý sẽ được thầy thấy rõ bằng chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Đây chính là sự chấm dứt khổ đau”. Hết bài kinh thứ chín.