- Saṁyutta Nikāya 35.70
- 7. Migajālavagga
Bản dịch
SN 35.70 — Kinh Thiết Thực Hiện Tại (Upavāṇa)
Upavāṇasandiṭṭhikasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Upavāna đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavāna bạch Thế Tôn:
: “Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại (Sanditthika)”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình giác hiểu?
Vi-n 4 —Ở đây, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Cho đến chừng nào sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 5-6. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương …
Vi-n 7-8. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 9 Lại nữa, này Upavāna, sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Cho đến chừng nào sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 10 Ở đấy, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với sắc”. Cho đến chừng nào, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 11-14. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 15 Lại nữa, này Upavāna, sau khi ý nhận thức pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Cho đến chừng nào, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ những người có trí tự mình giác hiểu.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.70
- 7. With Migajāla
Upavāṇa on What is Apparent in the Present Life
8. Kinh Thiết Thực Hiện Tại (Upavāṇa)
Atha kho āyasmā upavāṇo yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upavāṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“‘sandiṭṭhiko dhammo, sandiṭṭhiko dhammo’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti?
Then Venerable Upavāṇa went up to the Buddha … and said to him:
“Sir, they speak of ‘a teaching apparent in the present life’. In what way is the teaching apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves?”
70. Bấy giờ, Tôn giả Upavāṇa đi đến chỗ Thế Tôn... ... Ngồi một bên, Tôn giả Upavāṇa bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, người ta nói: ‘Pháp thiết thực hiện tại, pháp thiết thực hiện tại’. Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào thì pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình liễu tri?”
“Idha pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti rūparāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti rūparāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
“Upavāṇa, take a mendicant who sees a sight with their eyes. They experience both the sight and the desire for the sight. There is desire for sights in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
“Ở đây, này Upavāṇa, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, vị ấy cảm nhận sắc và cũng cảm nhận tham ái đối với sắc. Và vị ấy biết rõ tham ái đối với các sắc đang có mặt bên trong rằng: ‘Có tham ái đối với các sắc đang có mặt bên trong ta’. Này Upavāṇa, khi vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, cảm nhận sắc và cũng cảm nhận tham ái đối với sắc, và biết rõ tham ái đối với các sắc đang có mặt bên trong rằng: ‘Có tham ái đối với các sắc đang có mặt bên trong ta’, thì như vậy, này Upavāṇa, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình liễu tri.”... ...
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedī ca hoti rasarāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedī ca hoti rasarāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Next, take a mendicant who hears … smells … tastes … touches …
“Lại nữa, này Upavāṇa, vị tỳ khưu sau khi nếm vị bằng lưỡi, vị ấy cảm nhận vị và cũng cảm nhận tham ái đối với vị. Và vị ấy biết rõ tham ái đối với các vị đang có mặt bên trong rằng: ‘Có tham ái đối với các vị đang có mặt bên trong ta’. Này Upavāṇa, khi vị tỳ khưu sau khi nếm vị bằng lưỡi, cảm nhận vị và cũng cảm nhận tham ái đối với vị, và biết rõ tham ái đối với các vị đang có mặt bên trong rằng: ‘Có tham ái đối với các vị đang có mặt bên trong ta’, thì như vậy, này Upavāṇa, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình liễu tri.”... ...
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedī ca hoti dhammarāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedī ca hoti dhammarāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti …pe… paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Next, take a mendicant who knows an idea with their mind. They experience both the idea and the desire for the idea. There is desire for ideas in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
“Lại nữa, này Upavāṇa, vị tỳ khưu sau khi biết pháp bằng ý, vị ấy cảm nhận pháp và cũng cảm nhận tham ái đối với pháp. Và vị ấy biết rõ tham ái đối với các pháp đang có mặt bên trong rằng: ‘Có tham ái đối với các pháp đang có mặt bên trong ta’. Này Upavāṇa, khi vị tỳ khưu sau khi biết pháp bằng ý, cảm nhận pháp và cũng cảm nhận tham ái đối với pháp, và biết rõ tham ái đối với các pháp đang có mặt bên trong rằng: ‘Có tham ái đối với các pháp đang có mặt bên trong ta’, thì như vậy, này Upavāṇa, pháp là thiết thực hiện tại... được người trí tự mình liễu tri.”... ...
Idha pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti, no ca rūparāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca rūparāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Take a mendicant who sees a sight with their eyes. They experience the sight but no desire for the sight. There is no desire for sights in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
“Này Upavāṇa, ở đây, vị tỳ khưu sau khi nhìn thấy sắc pháp bằng con mắt thì có cảm nhận về sắc pháp, nhưng không có cảm nhận về tham ái đối với sắc pháp. Và vị ấy biết rõ về tham ái đối với các sắc pháp không có ở nội tâm rằng: ‘Tham ái đối với các sắc pháp không có ở nội tâm của ta’. Này Upavāṇa, vị tỳ khưu ấy sau khi nhìn thấy sắc pháp bằng con mắt thì quả thật có cảm nhận về sắc pháp, nhưng không có cảm nhận về tham ái đối với sắc pháp. Và vị ấy biết rõ về tham ái đối với các sắc pháp không có ở nội tâm rằng: ‘Tham ái đối với các sắc pháp không có ở nội tâm của ta’. Này Upavāṇa, Pháp cũng là như vậy, là điều có thể tự mình thấy rõ, không có thời gian (cho quả tức thì), đáng để đến xem, đáng để hướng vào, được người trí tự mình biết đến’... vân vân...
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca rasarāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti …pe….
Next, take a mendicant who hears … smells … tastes … touches …
“Lại nữa, này Upavāṇa, vị tỳ khưu sau khi nếm vị bằng lưỡi thì quả thật có cảm nhận về vị, nhưng không có cảm nhận về tham ái đối với vị. Và vị ấy biết rõ về tham ái đối với các vị không có ở nội tâm rằng: ‘Tham ái đối với các vị không có ở nội tâm của ta’... vân vân...
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca dhammarāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca dhammarāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Next, take a mendicant who knows an idea with their mind. They experience the idea but no desire for the idea. There is no desire for ideas in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.”
“Lại nữa, này Upavāṇa, vị tỳ khưu sau khi biết pháp bằng ý thì quả thật có cảm nhận về pháp, nhưng không có cảm nhận về tham ái đối với pháp. Và vị ấy biết rõ về tham ái đối với các pháp không có ở nội tâm rằng: ‘Tham ái đối với các pháp không có ở nội tâm của ta’. Này Upavāṇa, vị tỳ khưu ấy sau khi biết pháp bằng ý thì quả thật có cảm nhận về pháp, nhưng không có cảm nhận về tham ái đối với pháp. Và vị ấy biết rõ về tham ái đối với các pháp không có ở nội tâm rằng: ‘Tham ái đối với các pháp không có ở nội tâm của ta’. Này Upavāṇa, Pháp cũng là như vậy, là điều có thể tự mình thấy rõ, không có thời gian (cho quả tức thì), đáng để đến xem, đáng để hướng vào, được người trí tự mình biết đến”. Hết bài kinh thứ tám.