- Saṁyutta Nikāya 35.69
- 7. Migajālavagga
Bản dịch
SN 35.69 — Kinh Rắn Độc (Upasena)
Upasenaāsīvisasutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Upasena trú ở Rājagaha (Vương Xá), rừng Sītavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một con rắn độc rơi trên thân Tôn giả Upasena.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Upasena gọi các Tỷ-kheo:
—Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Vi-n 4 Ðược nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Upasena:
—Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Vi-n 5 Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
—Này chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây bị phân tán như một nắm rơm …
Vi-n 6 Này Hiền giả Sāriputta, đối với ai nghĩ rằng: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi” … “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sāriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sāriputta, tôi không nghĩ như sau: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi” … hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời này Hiền giả Sāriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vi-n 7 Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi” … hay: “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Lưỡi là của tôi” … hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”.
Vi-n 8 Rồi các Tỷ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Vi-n 9 Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.69
- 7. With Migajāla
Upasena and the Viper
7. Kinh Rắn Độc (Upasena)
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca upaseno rājagahe viharanti sītavane sappasoṇḍikapabbhāre. Tena kho pana samayena āyasmato upasenassa kāye āsīviso patito hoti. Atha kho āyasmā upaseno bhikkhū āmantesi: “etha me, āvuso, imaṁ kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīharatha. Purāyaṁ kāyo idheva vikirati; seyyathāpi bhusamuṭṭhī”ti.
At one time the venerables Sāriputta and Upasena were staying near Rājagaha in the Cool Grove, under the Cobra’s Hood Grotto. Now at that time a viper fell on Upasena’s body. He addressed the mendicants, “Come, reverends, lift this body onto a cot and carry it outside before it’s scattered right here like a handful of hay.”
69. Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Upasena trú ở Rājagaha, tại Sītavana, trong hang Sappasoṇḍika. Khi ấy, một con rắn độc đã rơi xuống thân của Tôn giả Upasena. Bấy giờ, Tôn giả Upasena gọi các vị tỳ khưu: “Này chư hiền, hãy đến, đặt thân này của tôi lên giường rồi mang ra ngoài, trước khi thân này tan rã ra ngay tại đây như một nắm trấu.”
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ upasenaṁ etadavoca: “na kho pana mayaṁ passāma āyasmato upasenassa kāyassa vā aññathattaṁ indriyānaṁ vā vipariṇāmaṁ. Atha ca panāyasmā upaseno evamāha: ‘etha me, āvuso, imaṁ kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīharatha. Purāyaṁ kāyo idheva vikirati; seyyathāpi bhusamuṭṭhī’”ti.
“Yassa nūna, āvuso sāriputta, evamassa: ‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe… ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā … ahaṁ manoti vā mama mano’ti vā. Tassa, āvuso sāriputta, siyā kāyassa vā aññathattaṁ indriyānaṁ vā vipariṇāmo.
Mayhañca kho, āvuso sāriputta, na evaṁ hoti: ‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe… ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā …pe… ahaṁ manoti vā mama manoti vā’. Tassa mayhañca kho, āvuso sāriputta, kiṁ kāyassa vā aññathattaṁ bhavissati, indriyānaṁ vā vipariṇāmo”ti.
When he said this, Sāriputta said to him, “But we don’t see any impairment in your body or deterioration of your faculties. Yet you say: ‘Come, reverends, lift this body onto a cot and carry it outside before it’s scattered right here like a handful of hay.’”
“Reverend Sāriputta, there may be an impairment in body or deterioration of faculties for someone who thinks: ‘I am the eye’ or ‘the eye is mine.’ Or ‘I am the ear … nose … tongue … body …’ Or ‘I am the mind’ or ‘the mind is mine.’
But I don’t think like that. So why would there be an impairment in my body or deterioration of my faculties?”
Khi được nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Upasena: “Chúng tôi không thấy có sự thay đổi nào nơi thân của Tôn giả Upasena, hay sự biến đổi nào nơi các căn. Thế mà Tôn giả Upasena lại nói rằng: ‘Này chư hiền, hãy đến, đặt thân này của tôi lên giường rồi mang ra ngoài, trước khi thân này tan rã ra ngay tại đây như một nắm trấu.’” “Này hiền giả Sāriputta, người nào có ý nghĩ rằng: ‘Ta là mắt’ hay ‘mắt là của ta’... ... ‘ta là lưỡi’ hay ‘lưỡi là của ta’... ‘ta là ý’ hay ‘ý là của ta’, thì người ấy, này hiền giả Sāriputta, mới có thể có sự thay đổi nơi thân hay sự biến đổi nơi các căn. Còn tôi, này hiền giả Sāriputta, không có ý nghĩ như vậy: ‘Ta là mắt’ hay ‘mắt là của ta’... ... ‘ta là lưỡi’ hay ‘lưỡi là của ta’... ... ‘ta là ý’ hay ‘ý là của ta’. Đối với tôi như vậy, này hiền giả Sāriputta, làm sao có thể có sự thay đổi nơi thân hay sự biến đổi nơi các căn?”
Tathā hi panāyasmato upasenassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayo susamūhato.
Tasmā āyasmato upasenassa na evaṁ hoti: “‘ahaṁ cakkhūti vā mama cakkhūti vā …pe… ahaṁ jivhāti vā mama jivhāti vā …pe… ahaṁ manoti vā mama mano’ti vā”ti.
Atha kho te bhikkhū āyasmato upasenassa kāyaṁ mañcakaṁ āropetvā bahiddhā nīhariṁsu. Atha kho āyasmato upasenassa kāyo tattheva vikiri; seyyathāpi bhusamuṭṭhīti.
Sattamaṁ.
“That must be because Venerable Upasena has long ago totally eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit.
That’s why it doesn’t occur to you: ‘I am the eye’ or ‘the eye is mine.’ Or ‘I am the ear … nose … tongue … body …’ Or ‘I am the mind’ or ‘the mind is mine.’”
Then those mendicants lifted Upasena’s body onto a cot and carried it outside. And his body was scattered right there like a handful of hay.
“Quả thật, từ lâu, các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn đã được Tôn giả Upasena nhổ sạch. Do đó, Tôn giả Upasena không có ý nghĩ rằng: ‘Ta là mắt’ hay ‘mắt là của ta’... ... ‘ta là lưỡi’ hay ‘lưỡi là của ta’... ... ‘ta là ý’ hay ‘ý là của ta’.” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đặt thân của Tôn giả Upasena lên giường rồi mang ra ngoài. Và thân của Tôn giả Upasena đã tan rã ra ngay tại đó, như một nắm trấu.