- Saṁyutta Nikāya 35.30
- 3. Sabbavagga
Bản dịch
SN 35.30 — Kinh Samugghātasāruppa
Samugghātasāruppasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường (sabbamannità). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?
Vi-n 4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: “Con mắt là của ta”. Vị ấy không tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường: “Các sắc là của ta”. Vị ấy không tư lường nhãn thức, không tư lường trên nhãn thức, không tư lường từ nhãn thức, không tư lường: “Nhãn thức là của ta”. Vị ấy không tư lường nhãn xúc, không tư lường trên nhãn xúc, không tư lường từ nhãn xúc, không tư lường: “Nhãn xúc là của ta”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy của ta” … Tai … Mũi …
Vi-n 7-8. … Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: “Lưỡi là của ta”. Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường trên các vị, không tư lường từ các vị, không tư lường: “Các vị là của ta”. Vị ấy không tư lường thiệt thức, không tư lường trên thiệt thức, không tư lường từ thiệt thức, không tư lường: “Thiệt thức là của ta”. Vị ấy không tư lường thiệt xúc, không tư lường trên thiệt xúc, không tư lường từ thiệt xúc, không tư lường: “Thiệt xúc là của ta”. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”.
Vi-n 9 … Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: “Ý là của ta”. Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường trên các pháp, không tư lường từ các pháp, không tư lường: “Các pháp là của ta”. Vị ấy không tư lường ý thức, không tư lường trên ý thức, không tư lường từ ý thức, không tư lường: “Ý thức là của ta”. Vị ấy không tư lường ý xúc, không tư lường trên ý xúc, không tư lường từ ý xúc, không tư lường: “Ý xúc là của ta”. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, từ đấy cái ấy bị đổi khác. Ý tựa trên đổi khác, bám víu vào tái sanh, thế giới ưa thích tái sanh.
Vi-n 10 Cho đến các uẩn, giới, xứ, này các Tỷ-kheo, vị ấy không tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: “Pháp ấy là của ta”. Vị ấy không tư lường như vậy nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ nên không ái luyến. Do không ái luyến nên tự mình được hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 11 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.30
- 3. All
The Practice Fit for Uprooting
8. Kinh Samugghātasāruppa
“Sabbamaññitasamugghātasāruppaṁ vo, bhikkhave, paṭipadaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmīti.
Katamā ca sā, bhikkhave, sabbamaññitasamugghātasāruppā paṭipadā?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhuṁ na maññati, cakkhusmiṁ na maññati, cakkhuto na maññati, cakkhuṁ meti na maññati. Rūpe na maññati, rūpesu na maññati, rūpato na maññati, rūpā meti na maññati. Cakkhuviññāṇaṁ na maññati, cakkhuviññāṇasmiṁ na maññati, cakkhuviññāṇato na maññati, cakkhuviññāṇaṁ meti na maññati. Cakkhusamphassaṁ na maññati, cakkhusamphassasmiṁ na maññati, cakkhusamphassato na maññati, cakkhusamphasso meti na maññati. Yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññati, tasmimpi na maññati, tatopi na maññati, taṁ meti na maññati …pe…
jivhaṁ na maññati, jivhāya na maññati, jivhāto na maññati, jivhā meti na maññati. Rase na maññati, rasesu na maññati, rasato na maññati, rasā meti na maññati. Jivhāviññāṇaṁ na maññati, jivhāviññāṇasmiṁ na maññati, jivhāviññāṇato na maññati, jivhāviññāṇaṁ meti na maññati. Jivhāsamphassaṁ na maññati, jivhāsamphassasmiṁ na maññati, jivhāsamphassato na maññati, jivhāsamphasso meti na maññati. Yampidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññati, tasmimpi na maññati, tatopi na maññati, taṁ meti na maññati …pe… manaṁ na maññati, manasmiṁ na maññati, manato na maññati, mano meti na maññati. Dhamme na maññati, dhammesu na maññati, dhammato na maññati, dhammā meti na maññati. Manoviññāṇaṁ na maññati, manoviññāṇasmiṁ na maññati, manoviññāṇato na maññati, manoviññāṇaṁ meti na maññati. Manosamphassaṁ na maññati, manosamphassasmiṁ na maññati, manosamphassato na maññati, manosamphasso meti na maññati. Yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññati, tasmimpi na maññati, tatopi na maññati, taṁ meti na maññati.
Sabbaṁ na maññati, sabbasmiṁ na maññati, sabbato na maññati, sabbaṁ meti na maññati. So evaṁ amaññamāno na ca kiñci loke upādiyati. Anupādiyaṁ na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ kho sā, bhikkhave, sabbamaññitasamugghātasāruppā paṭipadā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Mendicants, I will teach you the practice fit for uprooting all conceiving. Listen and apply your mind well, I will speak. …
And what is the practice fit for uprooting all conceiving?
It’s when a mendicant does not conceive anything to be the eye, does not conceive it in the eye, does not conceive it as the eye, and does not conceive that ‘the eye is mine.’ They don’t conceive anything to be sights, they don’t conceive it in sights, they don’t conceive it as sights, and they don’t conceive that ‘sights are mine.’ They don’t conceive eye consciousness … eye contact … They don’t conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on eye contact. They don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’
They don’t conceive anything to be the ear … nose … tongue … body … mind … They don’t conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on mind contact. They don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’
They don’t conceive anything to be all, they don’t conceive it in all, they don’t conceive it as all, and they don’t conceive that ‘all is mine.’ Not conceiving, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
This is the practice fit for uprooting all conceiving.”
30. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ông pháp hành thích hợp để nhổ bật tận gốc tất cả tưởng tri. Các ông hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ giảng. Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp hành thích hợp để nhổ bật tận gốc tất cả tưởng tri? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu không tưởng tri con mắt, không tưởng tri trong con mắt, không tưởng tri từ con mắt, không tưởng tri 'con mắt là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri các sắc, không tưởng tri trong các sắc, không tưởng tri từ các sắc, không tưởng tri 'các sắc là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri nhãn thức, không tưởng tri trong nhãn thức, không tưởng tri từ nhãn thức, không tưởng tri 'nhãn thức là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri nhãn xúc, không tưởng tri trong nhãn xúc, không tưởng tri từ nhãn xúc, không tưởng tri 'nhãn xúc là của tôi'. Và cảm thọ nào khởi lên do duyên nhãn xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, vị ấy cũng không tưởng tri về cảm thọ ấy, không tưởng tri trong cảm thọ ấy, không tưởng tri từ cảm thọ ấy, không tưởng tri 'cảm thọ ấy là của tôi'. ... (tương tự như trên) ... Vị ấy không tưởng tri lưỡi, không tưởng tri nơi lưỡi, không tưởng tri từ lưỡi, không tưởng tri 'lưỡi là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri các vị, không tưởng tri trong các vị, không tưởng tri từ các vị, không tưởng tri 'các vị là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri thiệt thức, không tưởng tri trong thiệt thức, không tưởng tri từ thiệt thức, không tưởng tri 'thiệt thức là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri thiệt xúc, không tưởng tri trong thiệt xúc, không tưởng tri từ thiệt xúc, không tưởng tri 'thiệt xúc là của tôi'. Và cảm thọ nào khởi lên do duyên thiệt xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, vị ấy cũng không tưởng tri về cảm thọ ấy, không tưởng tri trong cảm thọ ấy, không tưởng tri từ cảm thọ ấy, không tưởng tri 'cảm thọ ấy là của tôi'. ... (tương tự như trên) ... Vị ấy không tưởng tri ý, không tưởng tri trong ý, không tưởng tri từ ý, không tưởng tri 'ý là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri các pháp, không tưởng tri trong các pháp, không tưởng tri từ các pháp, không tưởng tri 'các pháp là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri ý thức, không tưởng tri trong ý thức, không tưởng tri từ ý thức, không tưởng tri 'ý thức là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri ý xúc, không tưởng tri trong ý xúc, không tưởng tri từ ý xúc, không tưởng tri 'ý xúc là của tôi'. Và cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, vị ấy cũng không tưởng tri về cảm thọ ấy, không tưởng tri trong cảm thọ ấy, không tưởng tri từ cảm thọ ấy, không tưởng tri 'cảm thọ ấy là của tôi'. Vị ấy không tưởng tri tất cả, không tưởng tri trong tất cả, không tưởng tri từ tất cả, không tưởng tri 'tất cả là của tôi'. Vị ấy, do không tưởng tri như vậy, không chấp thủ bất cứ điều gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không lo âu. Không lo âu, vị ấy tự mình chứng đắc Niết-bàn ngay trong hiện tại. Vị ấy tuệ tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này các Tỳ khưu, đây chính là pháp hành thích hợp để nhổ bật tận gốc tất cả tưởng tri.” Kinh thứ tám.