- Saṁyutta Nikāya 35.31
- 3. Sabbavagga
Bản dịch
SN 35.31 — Kinh Thích Hợp Để Nhổ Bật Tận Gốc (Thứ Nhất)
Paṭhamasamugghātasappāyasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?
Vi-n 4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: “Con mắt là của ta”. Vị ấy không tư lường các sắc … không tư lường nhãn thức … không tư lường nhãn xúc … Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu (bhavasatto), vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu …
Vi-n 7-8. … Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: “Lưỡi là của ta”. Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường thiệt thức, không tư lường thiệt xúc. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu, vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu.
Vi-n 9 … Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: “Ý là của ta”. Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường ý thức, không tư lường ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu, vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, xa cho đến uẩn, giới, xứ, vị ấy không có tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: “Pháp ấy là của ta”. Vị ấy không có tư lường như vậy nên không có chấp thủ một sự vật gì trong đời. Do không chấp thủ, nên không dao động (paritassati), do không dao động, vị ấy tự mình được tịch tịnh (parinibbàyati). Vị ấy tuệ tri (pajànati): “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, đây là đạo lộ thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.31
- 3. All
The Practice Conducive to Uprooting (1st)
9. Kinh Thích Hợp Để Nhổ Bật Tận Gốc (Thứ Nhất)
“Sabbamaññitasamugghātasappāyaṁ vo, bhikkhave, paṭipadaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha.
Katamā ca sā, bhikkhave, sabbamaññitasamugghātasappāyā paṭipadā? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhuṁ na maññati, cakkhusmiṁ na maññati, cakkhuto na maññati, cakkhuṁ meti na maññati. Rūpe na maññati …pe… cakkhuviññāṇaṁ na maññati, cakkhusamphassaṁ na maññati, yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññati, tasmimpi na maññati, tatopi na maññati, taṁ meti na maññati.
Yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṁ maññati, yato maññati, yaṁ meti maññati, tato taṁ hoti aññathā. Aññathābhāvī bhavasatto loko bhavamevābhinandati …pe…
jivhaṁ na maññati, jivhāya na maññati, jivhāto na maññati, jivhā meti na maññati. Rase na maññati …pe… jivhāviññāṇaṁ na maññati, jivhāsamphassaṁ na maññati. Yampidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññati, tasmimpi na maññati, tatopi na maññati, taṁ meti na maññati. Yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṁ maññati, yato maññati, yaṁ meti maññati, tato taṁ hoti aññathā. Aññathābhāvī bhavasatto loko bhavamevābhinandati …pe… manaṁ na maññati, manasmiṁ na maññati, manato na maññati, mano meti na maññati. Dhamme na maññati …pe… manoviññāṇaṁ na maññati, manosamphassaṁ na maññati. Yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi na maññati, tasmimpi na maññati, tatopi na maññati, taṁ meti na maññati.
Yañhi, bhikkhave, maññati, yasmiṁ maññati, yato maññati, yaṁ meti maññati, tato taṁ hoti aññathā. Aññathābhāvī bhavasatto loko bhavamevābhinandati.
Yāvatā, bhikkhave, khandhadhātuāyatanaṁ tampi na maññati, tasmimpi na maññati, tatopi na maññati, taṁ meti na maññati. So evaṁ amaññamāno na ca kiñci loke upādiyati. Anupādiyaṁ na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ kho sā, bhikkhave, sabbamaññitasamugghātasappāyā paṭipadā”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, I will teach you the practice that’s conducive to uprooting all conceiving. Listen …
And what is the practice that’s conducive to uprooting all conceiving? It’s when a mendicant does not conceive anything to be the eye, does not conceive it in the eye, does not conceive it as the eye, and does not conceive that ‘the eye is mine.’ They don’t conceive anything to be sights … eye consciousness … eye contact. And they don’t conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on eye contact. They don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’
For whatever you conceive it to be, whatever you conceive it in, whatever you conceive it as, and whatever you conceive to be ‘mine’: that becomes something else. The world is attached to being, taking pleasure only in being, yet it becomes something else.
They don’t conceive anything to be the ear … nose … tongue … body … mind … They don’t conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on mind contact. They don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’
For whatever you conceive it to be, whatever you conceive it in, whatever you conceive it as, and whatever you conceive to be ‘mine’: that becomes something else. The world is attached to being, taking pleasure only in being, yet it becomes something else.
As far as the aggregates, elements, and sense fields extend, they don’t conceive anything to be that, they don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’ Not conceiving, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
This is the practice that’s conducive to uprooting all conceiving.”
31. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ngươi về con đường thực hành thích hợp để nhổ bật tất cả các tưởng tượng. Các ngươi hãy lắng nghe. Và này các Tỳ khưu, thế nào là con đường thực hành thích hợp để nhổ bật tất cả các tưởng tượng? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu không tưởng tượng về con mắt, không tưởng tượng trong con mắt, không tưởng tượng từ con mắt, không tưởng tượng ‘con mắt là của ta’. Vị ấy không tưởng tượng về các sắc… (v.v.)… không tưởng tượng về nhãn thức, không tưởng tượng về nhãn xúc, và cả cảm thọ nào khởi lên do duyên nhãn xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, vị ấy cũng không tưởng tượng về cảm thọ ấy, không tưởng tượng trong cảm thọ ấy, không tưởng tượng từ cảm thọ ấy, không tưởng tượng ‘cảm thọ ấy là của ta’. Bởi vì, này các Tỳ khưu, cái gì mà người ta tưởng tượng, cái gì mà người ta tưởng tượng trong đó, cái gì mà người ta tưởng tượng từ đó, cái gì mà người ta tưởng tượng là ‘của ta’, thì cái đó trở thành khác đi. Thế gian có bản chất biến đổi, bị ràng buộc vào hữu, chỉ hoan hỷ trong hữu mà thôi… (v.v.)… Vị ấy không tưởng tượng về cái lưỡi, không tưởng tượng trong cái lưỡi, không tưởng tượng từ cái lưỡi, không tưởng tượng ‘cái lưỡi là của ta’. Vị ấy không tưởng tượng về các vị… (v.v.)… không tưởng tượng về thiệt thức, không tưởng tượng về thiệt xúc. Và cả cảm thọ nào khởi lên do duyên thiệt xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, vị ấy cũng không tưởng tượng về cảm thọ ấy, không tưởng tượng trong cảm thọ ấy, không tưởng tượng từ cảm thọ ấy, không tưởng tượng ‘cảm thọ ấy là của ta’. Bởi vì, này các Tỳ khưu, cái gì mà người ta tưởng tượng, cái gì mà người ta tưởng tượng trong đó, cái gì mà người ta tưởng tượng từ đó, cái gì mà người ta tưởng tượng là ‘của ta’, thì cái đó trở thành khác đi. Thế gian có bản chất biến đổi, bị ràng buộc vào hữu, chỉ hoan hỷ trong hữu mà thôi… (v.v.)… Vị ấy không tưởng tượng về ý, không tưởng tượng trong ý, không tưởng tượng từ ý, không tưởng tượng ‘ý là của ta’. Vị ấy không tưởng tượng về các pháp… (v.v.)… không tưởng tượng về ý thức, không tưởng tượng về ý xúc. Và cả cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, vị ấy cũng không tưởng tượng về cảm thọ ấy, không tưởng tượng trong cảm thọ ấy, không tưởng tượng từ cảm thọ ấy, không tưởng tượng ‘cảm thọ ấy là của ta’. Bởi vì, này các Tỳ khưu, cái gì mà người ta tưởng tượng, cái gì mà người ta tưởng tượng trong đó, cái gì mà người ta tưởng tượng từ đó, cái gì mà người ta tưởng tượng là ‘của ta’, thì cái đó trở thành khác đi. Thế gian có bản chất biến đổi, bị ràng buộc vào hữu, chỉ hoan hỷ trong hữu mà thôi. Này các Tỳ khưu, bao nhiêu là uẩn, giới, và xứ, vị ấy cũng không tưởng tượng về chúng, không tưởng tượng trong chúng, không tưởng tượng từ chúng, không tưởng tượng ‘chúng là của ta’. Vị ấy, do không tưởng tượng như vậy, nên không chấp thủ bất cứ cái gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không lo âu. Do không lo âu, vị ấy tự mình đạt đến Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này các Tỳ khưu, đây chính là con đường thực hành thích hợp để nhổ bật tất cả các tưởng tượng.” Kinh thứ chín.