- Saṁyutta Nikāya 35.29
- 3. Sabbavagga
Addhabhūtasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Addhabhūtasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Tất cả, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỷ-kheo, cái gì mù lòa?
Vi-n 3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não … Tai … Mũi …
Vi-n 6 Lưỡi là mù lòa. Các vị là mù lòa. Thiệt thức là mù lòa. Thiệt xúc là mù lòa. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Vi-n 7 Thân là mù lòa …
Vi-n 8 Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Vi-n 9 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Addhabhūta
“sabbaṁ, bhikkhave, addhabhūtaṁ. Kiñca, bhikkhave, sabbaṁ addhabhūtaṁ?
Cakkhu, bhikkhave, addhabhūtaṁ, rūpā addhabhūtā, cakkhuviññāṇaṁ addhabhūtaṁ, cakkhusamphasso addhabhūto, yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi addhabhūtaṁ. Kena addhabhūtaṁ? ‘Jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi addhabhūtan’ti vadāmi …pe…
jivhā addhabhūtā, rasā addhabhūtā, jivhāviññāṇaṁ addhabhūtaṁ, jivhāsamphasso addhabhūto, yampidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi addhabhūtaṁ. Kena addhabhūtaṁ? ‘Jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi addhabhūtan’ti vadāmi. Kāyo addhabhūto …pe… mano addhabhūto, dhammā addhabhūtā, manoviññāṇaṁ addhabhūtaṁ, manosamphasso addhabhūto, yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi addhabhūtaṁ. Kena addhabhūtaṁ? ‘Jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi addhabhūtan’ti vadāmi.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati …pe…
yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṁ ‘vimuttam’iti ñāṇaṁ hoti,
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, all is overcome. And what is the all that is overcome?
The eye is overcome. Sights are overcome. Eye consciousness is overcome. Eye contact is overcome. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on eye contact is also overcome. Overcome by what? Overcome by the fires of greed, hate, and delusion. Overcome by rebirth, old age, and death, by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, I say.
The ear … nose … tongue … body … mind is overcome. Ideas are overcome. Mind consciousness is overcome. Mind contact is overcome. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on mind contact is also overcome. Overcome by what? Overcome by greed, hate, and delusion. Overcome by rebirth, old age, and death, by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, I say.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on eye contact.
They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on mind contact. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
29. Như vầy tôi nghe. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, tất cả đều bị áp bức. Và này các tỳ khưu, thế nào là tất cả đều bị áp bức? Này các tỳ khưu, con mắt bị áp bức, các sắc bị áp bức, nhãn thức bị áp bức, nhãn xúc bị áp bức, và bất cứ cảm thọ nào khởi lên do duyên nhãn xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng bị áp bức. Bị áp bức bởi cái gì? Ta nói rằng: ‘Bị áp bức bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.’ ... Lưỡi bị áp bức, các vị bị áp bức, thiệt thức bị áp bức, thiệt xúc bị áp bức, và bất cứ cảm thọ nào khởi lên do duyên thiệt xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng bị áp bức. Bị áp bức bởi cái gì? Ta nói rằng: ‘Bị áp bức bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.’ Thân bị áp bức ... Ý bị áp bức, các pháp bị áp bức, ý thức bị áp bức, ý xúc bị áp bức, và bất cứ cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng bị áp bức. Bị áp bức bởi cái gì? Ta nói rằng: ‘Bị áp bức bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.’ Này các tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc ... và bất cứ cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, vị ấy cũng nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát, trong sự giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát,’ vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ (Kinh thứ) bảy.