- Saṁyutta Nikāya 35.248
- 19. Āsīvisavagga
Bản dịch
SN 35.248 — Kinh Bó Lúa Mạch
Yavakalāpisutta
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một bó lúa quăng tại ngã tư đường, rồi sáu người đến, tay cầm cái đập và họ đập bó lúa ấy với sáu cái đập (vyàkggì)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy được khéo đập với sáu cái đập ấy. Rồi một người thứ bảy đến, tay cầm cái đập, và người ấy đập bó lúa ấy với cái đập thứ bảy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại càng được khéo đập với cái đập thứ bảy.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu bị đập trong con mắt bởi những sắc khả ái và không khả ái … bị đập trong lưỡi bởi những vị khả ái và không khả ái … bị đập trong ý bởi những pháp khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, nếu kẻ vô văn phàm phu ấy lại nghĩ đến tái sanh trong tương lai, như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si ấy lại càng bị khéo đập hơn nữa. Ví như, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại được đập với cái đập thứ bảy nữa.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất là khốc liệt.
Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua A-tu-la gọi các A-tu-la: “Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la”. Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba: “Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất là khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói vua A-tu-la Vepacitti, hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)”.
Vi-n 6 Nhưng trận chiến ấy, chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại. Rồi, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba trói vua A-tu-la Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka trong giảng đường Sudhamma.
Vi-n 7 Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua A-tu-la Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua A-tu-la Vepacitti suy nghĩ như sau: “Chư Thiên theo Chánh pháp, còn A-tu-la theo phi pháp. Nay ta đi đến thành của chư Thiên”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình được cởi trói hai chân, hai tay và thứ năm là cổ, và được hưởng thọ, được thưởng thức đầy đủ năm dục công đức cõi trời. Và này các Tỷ-kheo, khi vua A-tu-la suy nghĩ như sau: “Các A-tu-la theo Chánh pháp, chư Thiên theo phi pháp. Ở đây, ta sẽ đi đến thành của các A-tu-la”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và bị tước bỏ năm dục công đức cõi trời.
Vi-n 8 Như vậy, này các Tỷ-kheo, thật tế nhị là sự trói buộc của Vepacitti, và còn tế nhị hơn là sự trói buộc của Māra. Ai có tư tưởng (Mannamàna), người ấy bị Māra trói buộc. Ai không có tư tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Cái này là tôi”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không là”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có tưởng”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một tư tưởng. Có tư tưởng, này các Tỷ-kheo, là tham. Có tư tưởng là mụt nhọt. Có tư tưởng là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có tư tưởng”.
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một động chuyển (injitam). “Cái này là tôi”, là một động chuyển. “Tôi sẽ là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có sắc”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một động chuyển. Ðộng chuyển, này các Tỷ-kheo, là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có động chuyển”.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một chấn động (phanditam). “Cái này là tôi”, là một chấn động. “Tôi sẽ là”, là một chấn động. “Tôi sẽ không là”, là một chấn động. “Tôi sẽ có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một chấn động. Chấn động, này các Tỷ-kheo, là tham. Chấn động là mụt nhọt. Chấn động là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không chấn động”.
Vi-n 11 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một hý luận (papancitam). “Cái này là tôi”, là một hý luận. “Tôi sẽ là”, là một hý luận. “Tôi sẽ không là”, là một hý luận. “Tôi sẽ có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một hý luận. Hý luận, này các Tỷ-kheo, là tham. Hý luận là mụt nhọt. Hý luận là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có hý luận”.
Vi-n 12 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một ngã mạn. “Cái này là tôi”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một ngã mạn. Ngã mạn, này các Tỷ-kheo, là tham. Ngã mạn là mụt nhọt. Ngã mạn là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm trừ bỏ ngã mạn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.248
- 19. The Simile of the Vipers
The Sheaf of Barley
11. Kinh Bó Lúa Mạch
“Seyyathāpi, bhikkhave, yavakalāpī cātumahāpathe nikkhittā assa. Atha cha purisā āgaccheyyuṁ byābhaṅgihatthā. Te yavakalāpiṁ chahi byābhaṅgīhi haneyyuṁ. Evañhi sā, bhikkhave, yavakalāpī suhatā assa chahi byābhaṅgīhi haññamānā. Atha sattamo puriso āgaccheyya byābhaṅgihattho. So taṁ yavakalāpiṁ sattamāya byābhaṅgiyā haneyya. Evañhi sā bhikkhave, yavakalāpī suhatatarā assa, sattamāya byābhaṅgiyā haññamānā.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano cakkhusmiṁ haññati manāpāmanāpehi rūpehi …pe… jivhāya haññati manāpāmanāpehi rasehi …pe… manasmiṁ haññati manāpāmanāpehi dhammehi. Sace so, bhikkhave, assutavā puthujjano āyatiṁ punabbhavāya ceteti, evañhi so, bhikkhave, moghapuriso suhatataro hoti, seyyathāpi sā yavakalāpī sattamāya byābhaṅgiyā haññamānā.
“Mendicants, suppose a sheaf of barley was placed at a crossroads. Then six people would come along carrying flails, and start threshing the sheaf of barley. So that sheaf of barley would be thoroughly threshed by those six flails. Then a seventh person would come along carrying a flail, and they’d give the sheaf of barley a seventh threshing. So that sheaf of barley would be even more thoroughly threshed by that seventh flail.
In the same way, an unlearned ordinary person is struck in the eye by both pleasant and unpleasant sights. They’re struck in the ear … nose … tongue … body … mind by both pleasant and unpleasant ideas. And if that unlearned ordinary person intends to be reborn in a new state of existence in the future, that futile person is even more thoroughly struck, like that sheaf of barley threshed by the seventh person.
248. “Này các Tỳ khưu, ví như một bó lúa mạch được đặt ở ngã tư đường. Rồi sáu người đàn ông tay cầm đòn xóc đi đến. Họ dùng sáu cái đòn xóc ấy đập vào bó lúa mạch. Như vậy, này các Tỳ khưu, bó lúa mạch ấy, khi bị đập bởi sáu cái đòn xóc, đã bị đập kỹ. Rồi người đàn ông thứ bảy tay cầm đòn xóc đi đến. Người ấy dùng cái đòn xóc thứ bảy đập vào bó lúa mạch ấy. Như vậy, này các Tỳ khưu, bó lúa mạch ấy, khi bị đập bởi cái đòn xóc thứ bảy, lại càng bị đập kỹ hơn nữa. Tương tự như vậy, này các Tỳ khưu, kẻ phàm phu ít nghe bị các sắc khả ý và không khả ý đả thương ở mắt... (tương tự)... bị các vị khả ý và không khả ý đả thương ở lưỡi... (tương tự)... bị các pháp khả ý và không khả ý đả thương ở ý. Này các Tỳ khưu, nếu kẻ phàm phu ít nghe ấy lại còn tác ý cho sự tái sanh trong tương lai, thì này các Tỳ khưu, kẻ ngu si ấy lại càng bị đả thương nặng nề hơn, cũng như bó lúa mạch kia bị đập bởi cái đòn xóc thứ bảy.”
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi. Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo asure āmantesi: ‘sace, mārisā, devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe asurā jineyyuṁ devā parājineyyuṁ, yena naṁ sakkaṁ devānamindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha asurapuran’ti.
Sakkopi kho, bhikkhave, devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi: ‘sace, mārisā, devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe devā jineyyuṁ asurā parājineyyuṁ, yena naṁ vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha sudhammaṁ devasabhan’ti.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu. Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā sakkassa devānamindassa santike ānesuṁ sudhammaṁ devasabhaṁ.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vepacitti asurindo kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho hoti. Yadā kho, bhikkhave, vepacittissa asurindassa evaṁ hoti: ‘dhammikā kho devā, adhammikā asurā, idheva dānāhaṁ devapuraṁ gacchāmī’ti. Atha kaṇṭhapañcamehi bandhanehi muttaṁ attānaṁ samanupassati, dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Yadā ca kho, bhikkhave, vepacittissa asurindassa evaṁ hoti: ‘dhammikā kho asurā, adhammikā devā, tattheva dānāhaṁ asurapuraṁ gamissāmī’ti. atha kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddhaṁ attānaṁ samanupassati, dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi parihāyati.
Evaṁ sukhumaṁ kho, bhikkhave, vepacittibandhanaṁ. Tato sukhumataraṁ mārabandhanaṁ. Maññamāno kho, bhikkhave, baddho mārassa, amaññamāno mutto pāpimato.
Once upon a time, a battle was fought between the gods and the titans. Then Vepacitti, lord of titans, addressed the titans, ‘My good fellows, if the titans defeat the gods in this battle, bind Sakka, the lord of gods, by his limbs and neck and bring him to my presence in the citadel of the titans.’
Meanwhile, Sakka, lord of gods, addressed the gods of the thirty-three, ‘My good fellows, if the gods defeat the titans in this battle, bind Vepacitti by his limbs and neck and bring him to my presence in the Hall of Clear Right of the gods.’
In that battle the gods won and the titans lost. So the gods of the thirty-three bound Vepacitti by his limbs and neck and brought him to Sakka’s presence in the Hall of Clear Right of the gods.
And there Vepacitti remained bound by his limbs and neck. That is, until he thought, ‘It’s the gods who are principled, while the titans are unprincipled. Now I belong right here in the castle of the gods.’ Then he found himself freed from the bonds on his limbs and neck. He amused himself, supplied and provided with the five kinds of heavenly sensual stimulation.
But when he thought, ‘It’s the titans who are principled, while the gods are unprincipled. Now I will go over there to the citadel of the titans,’ he found himself bound by his limbs and neck, and the five kinds of heavenly sensual stimulation fell away.
That’s how subtly Vepacitti was bound. But the bonds of Māra are even more subtle than that. When you conceive, you’re bound by Māra. Not conceiving, you’re free from the Wicked One.
“Này các Tỳ khưu, thuở xưa, cuộc chiến giữa chư Thiên và a-tu-la đã dàn trận. Khi ấy, này các Tỳ khưu, Vepacitti, vua a-tu-la, đã nói với các a-tu-la rằng: ‘Này các bạn, nếu trong cuộc chiến giữa chư Thiên và a-tu-la đã dàn trận, các a-tu-la chiến thắng, chư Thiên thất bại, thì hãy trói vua của chư Thiên là Sakka bằng năm loại dây trói ở cổ rồi dẫn đến cho ta ở thành của a-tu-la.’ Và này các Tỳ khưu, Sakka, vua của chư Thiên, cũng đã nói với chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba rằng: ‘Này các bạn, nếu trong cuộc chiến giữa chư Thiên và a-tu-la đã dàn trận, chư Thiên chiến thắng, các a-tu-la thất bại, thì hãy trói vua của a-tu-la là Vepacitti bằng năm loại dây trói ở cổ rồi dẫn đến cho ta ở hội trường Sudhammā của chư Thiên.’ Trong cuộc chiến ấy, này các Tỳ khưu, chư Thiên đã chiến thắng, các a-tu-la đã thất bại. Khi ấy, này các Tỳ khưu, chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã trói vua của a-tu-la là Vepacitti bằng năm loại dây trói ở cổ rồi dẫn đến cho Sakka, vua của chư Thiên, ở hội trường Sudhammā của chư Thiên. Ở đó, này các Tỳ khưu, vua của a-tu-la là Vepacitti đã bị trói bằng năm loại dây trói ở cổ. Này các Tỳ khưu, khi nào vua của a-tu-la là Vepacitti khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Chư Thiên quả là đúng pháp, các a-tu-la là phi pháp. Bây giờ ta sẽ đi đến thành của chư Thiên ngay tại đây,’ thì khi ấy, vị ấy thấy mình được cởi trói khỏi năm loại dây trói ở cổ, và vị ấy tận hưởng, được cung phụng, được trang bị đầy đủ năm loại dục lạc của chư Thiên. Và này các Tỳ khưu, khi nào vua của a-tu-la là Vepacitti khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Các a-tu-la quả là đúng pháp, chư Thiên là phi pháp. Bây giờ ta sẽ đi đến thành của a-tu-la ngay tại đó,’ thì khi ấy, vị ấy thấy mình bị trói bởi năm loại dây trói ở cổ, và bị mất đi năm loại dục lạc của chư Thiên. Này các Tỳ khưu, sự trói buộc của Vepacitti vi tế như vậy. Sự trói buộc của Māra còn vi tế hơn thế nữa. Này các Tỳ khưu, người có tưởng tượng thì bị Māra trói buộc; người không có tưởng tượng thì được giải thoát khỏi Ác ma.
‘Asmī’ti, bhikkhave, maññitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti maññitametaṁ, ‘bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘na bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti maññitametaṁ. Maññitaṁ, bhikkhave, rogo, maññitaṁ gaṇḍo, maññitaṁ sallaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, ‘amaññamānena cetasā viharissāmā’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
These are what is conceived: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ What is conceived is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart that does not conceive.’
“Này các Tỳ khưu, ‘Tôi là’ – đây là sự tưởng tượng. ‘Đây là tôi’ – đây là sự tưởng tượng. ‘Tôi sẽ tồn tại’ – đây là sự tưởng tượng. ‘Tôi sẽ không tồn tại’ – đây là sự tưởng tượng. ‘Tôi sẽ có sắc’ – đây là sự tưởng tượng. ‘Tôi sẽ không có sắc’ – đây là sự tưởng tượng. ‘Tôi sẽ có tưởng’ – đây là sự tưởng tượng. ‘Tôi sẽ không có tưởng’ – đây là sự tưởng tượng. ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng’ – đây là sự tưởng tượng. Này các Tỳ khưu, sự tưởng tượng là một căn bệnh, sự tưởng tượng là một khối u, sự tưởng tượng là một mũi tên. Vì vậy, này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ an trú với tâm không tưởng tượng.’ Này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vậy.
‘Asmī’ti, bhikkhave, iñjitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti iñjitametaṁ, ‘bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘na bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti iñjitametaṁ. Iñjitaṁ, bhikkhave, rogo, iñjitaṁ gaṇḍo, iñjitaṁ sallaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, ‘aniñjamānena cetasā viharissāmā’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
These are what is perturbed: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ What is perturbed is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart free of perturbation.’
“Này các Tỳ khưu, ‘Tôi là’ – đây là sự dao động. ‘Đây là tôi’ – đây là sự dao động. ‘Tôi sẽ tồn tại’ – đây là sự dao động. ‘Tôi sẽ không tồn tại’ – đây là sự dao động. ‘Tôi sẽ có sắc’ – đây là sự dao động. ‘Tôi sẽ không có sắc’ – đây là sự dao động. ‘Tôi sẽ có tưởng’ – đây là sự dao động. ‘Tôi sẽ không có tưởng’ – đây là sự dao động. ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng’ – đây là sự dao động. Này các Tỳ khưu, sự dao động là một căn bệnh, sự dao động là một khối u, sự dao động là một mũi tên. Vì vậy, này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ an trú với tâm không dao động.’ Này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vậy.
‘Asmī’ti, bhikkhave, phanditametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti phanditametaṁ, ‘bhavissan’ti …pe… ‘na bhavissan’ti … ‘rūpī bhavissan’ti … ‘arūpī bhavissan’ti … ‘saññī bhavissan’ti … ‘asaññī bhavissan’ti … ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti phanditametaṁ. Phanditaṁ, bhikkhave, rogo, phanditaṁ gaṇḍo, phanditaṁ sallaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, ‘aphandamānena cetasā viharissāmā’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
These are what has floundered: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ What has floundered is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart free of floundering.’
“Này các Tỳ khưu, ‘Tôi là’ – đây là sự rung động. ‘Đây là tôi’ – đây là sự rung động. ‘Tôi sẽ tồn tại’... (v.v.)... ‘Tôi sẽ không tồn tại’... ‘Tôi sẽ có sắc’... ‘Tôi sẽ không có sắc’... ‘Tôi sẽ có tưởng’... ‘Tôi sẽ không có tưởng’... ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng’ – đây là sự rung động. Này các Tỳ khưu, sự rung động là một căn bệnh, sự rung động là một khối u, sự rung động là một mũi tên. Vì vậy, này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ an trú với tâm không rung động.’ Này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vậy.
‘Asmī’ti, bhikkhave, papañcitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti papañcitametaṁ, ‘bhavissan’ti …pe… ‘na bhavissan’ti … ‘rūpī bhavissan’ti … ‘arūpī bhavissan’ti … ‘saññī bhavissan’ti … ‘asaññī bhavissan’ti … ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti papañcitametaṁ. Papañcitaṁ, bhikkhave, rogo, papañcitaṁ gaṇḍo, papañcitaṁ sallaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, ‘nippapañcena cetasā viharissāmā’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
These are what is proliferated: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ What is proliferated is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart free of proliferation.’
“Này các Tỳ khưu, ‘Tôi là’ – đây là sự hý luận. ‘Đây là tôi’ – đây là sự hý luận. ‘Tôi sẽ tồn tại’... (v.v.)... ‘Tôi sẽ không tồn tại’... ‘Tôi sẽ có sắc’... ‘Tôi sẽ không có sắc’... ‘Tôi sẽ có tưởng’... ‘Tôi sẽ không có tưởng’... ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng’ – đây là sự hý luận. Này các Tỳ khưu, sự hý luận là một căn bệnh, sự hý luận là một khối u, sự hý luận là một mũi tên. Vì vậy, này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ an trú với tâm không hý luận.’ Này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vậy.
‘Asmī’ti, bhikkhave, mānagatametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti mānagatametaṁ, ‘bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘na bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti mānagatametaṁ. Mānagataṁ, bhikkhave, rogo, mānagataṁ gaṇḍo, mānagataṁ sallaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, ‘nihatamānena cetasā viharissāmā’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Ekādasamaṁ.
These are states of conceit: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ The state of conceit is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart that has struck down conceit.’”
“Này các Tỳ khưu, ‘Tôi là’ – đây là sự đi đến ngã mạn. ‘Đây là tôi’ – đây là sự đi đến ngã mạn. ‘Tôi sẽ tồn tại’ – đây là sự đi đến ngã mạn. ‘Tôi sẽ không tồn tại’ – đây là sự đi đến ngã mạn. ‘Tôi sẽ có sắc’ – đây là sự đi đến ngã mạn. ‘Tôi sẽ không có sắc’ – đây là sự đi đến ngã mạn. ‘Tôi sẽ có tưởng’ – đây là sự đi đến ngã mạn. ‘Tôi sẽ không có tưởng’ – đây là sự đi đến ngã mạn. ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng’ – đây là sự đi đến ngã mạn. Này các Tỳ khưu, sự đi đến ngã mạn là một căn bệnh, sự đi đến ngã mạn là một khối u, sự đi đến ngã mạn là một mũi tên. Vì vậy, này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ an trú với tâm đã diệt trừ ngã mạn.’ Này các Tỳ khưu, các con phải học tập như vậy.” Kinh thứ mười một.
Āsīvisavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Rắn Độc, thứ mười chín.
Āsīviso ratho kummo, dve dārukkhandhā avassuto; Dukkhadhammā kiṁsukā vīṇā, chappāṇā yavakalāpīti.
Rắn độc, cỗ xe, con rùa, hai khúc gỗ, không được nghe; Các pháp khổ, cây gòn, cây đàn, sáu sinh vật, và bó lúa mạch.
Saḷāyatanavagge catutthapaṇṇāsako samatto.
Năm Mươi Kinh Thứ Tư trong Phẩm Sáu Xứ đã hoàn tất.
Tassa vagguddānaṁ
Đây là kệ tóm tắt các phẩm của tập năm mươi kinh ấy:
Nandikkhayo saṭṭhinayo, samuddo uragena ca; Catupaṇṇāsakā ete, nipātesu pakāsitāti.
Phẩm Đoạn Tận Hỷ, Phẩm Sáu Mươi Phương Pháp, Phẩm Biển Cả, và Phẩm Nước; đây là những phẩm thuộc tập Năm mươi kinh thứ tư đã được thuyết giảng rõ ràng.
Saḷāyatanasaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses on the six sense fields are complete.
Tương Ưng Sáu Xứ đã xong.