- Saṁyutta Nikāya 35.247
- 19. Āsīvisavagga
Bản dịch
SN 35.247 — Kinh Ví Dụ Sáu Loài Sanh Vật
Chappāṇakopamasutta
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, có người thân bị thương tích, thân bị lở loét, đi vào một khu rừng đầy gai góc. Cỏ và gai đâm thủng chân người ấy, và cào rách thân lở loét của người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy do nhân duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo đi vào làng hay đi vào rừng gặp người chỉ trích Tỷ-kheo ấy, và người chỉ trích nói rằng: “Tôn giả làm như vậy, sở hành như vậy là gai bất tịnh trong làng”. Biết rằng vị ấy là gai, sau khi biết như vậy, cả hai (người Tỷ-kheo và người chỉ trích) cần phải hiểu là không hộ trì và có hộ trì.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý nhận biết pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi ấy, các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn …
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu, người ấy cột một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con chim, người ấy cột với sợi dây vững chắc … Sau khi bắt được con chó, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con giả can, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với những sợi dây vững chắc, người ấy cột một cái gút ở chính giữa và thả chúng đi. Này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”.Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: ” Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, khi ấy, con sinh vật nào mạnh hơn các sinh vật còn lại, được chúng đi theo, chúng tuân theo, chúng phục tùng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân niệm không tu tập, không làm cho sung mãn, con mắt sẽ lôi cuốn nó đối với các sắc khả ái và ghét bỏ đối với các sắc không khả ái … Ý sẽ lôi cuốn nó đối với các pháp khả ái và ghét bỏ đối với các pháp không khả ái.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hộ trì?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết các pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu con sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu … Sau khi bắt được con chim … Sau khi bắt được con chó … Sau khi bắt được con giả can … Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với sợi dây vững chắc, người ấy cột vào một cái cột hay cái trụ vững chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”. Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng gần bên, ngồi gần bên, nằm gần bên cái cột ấy hay cái trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo thân niệm được tu tập, được làm sung mãn, con mắt không lôi kéo vị ấy theo các sắc khả ái, đối với các sắc không khả ái, không ghét bỏ … lưỡi không lôi kéo vị ấy theo các vị khả ái, đối với vị không khả ái, không có ghét bỏ … ý không lôi kéo vị ấy theo các pháp khả ái, đối với pháp không khả ái, không có ghét bỏ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hộ trì.
Vi-n 8 Cái cột hay cái trụ vững chắc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân niệm. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành cơ sở, an trú, tích tập, khéo nỗ lực”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.247
- 19. The Simile of the Vipers
The Simile of Six Animals
10. Kinh Ví Dụ Sáu Loài Sanh Vật
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso arugatto pakkagatto saravanaṁ paviseyya. Tassa kusakaṇṭakā ceva pāde vijjheyyuṁ, sarapattāni ca gattāni vilekheyyuṁ. Evañhi so, bhikkhave, puriso bhiyyoso mattāya tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyetha.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu gāmagato vā araññagato vā labhati vattāraṁ: ‘ayañca so āyasmā evaṅkārī evaṁsamācāro asucigāmakaṇṭako’ti. Taṁ kaṇṭakoti iti viditvā saṁvaro ca asaṁvaro ca veditabbo.
“Mendicants, suppose a person with wounded and festering limbs was to enter a thicket of reeds. The kusa thorns would pierce their feet, and the reed leaves would scratch their limbs. And that would cause that person to experience even more pain and distress.
In the same way, some mendicant goes to a village or a wilderness and gets scolded, ‘This venerable, acting like this, behaving like this, is a filthy village thorn.’ Understanding that they’re a thorn, they should understand restraint and lack of restraint.
247. “Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông có thân thể đầy thương tích, đầy mụn nhọt đi vào một khu rừng gai. Gai kusa sẽ đâm vào chân của người ấy, và lá cây sara sẽ cào rách các vết thương trên thân thể của người ấy. Như vậy, này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy sẽ cảm nhận sự đau đớn và buồn khổ nhiều hơn nữa do nguyên nhân đó. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, ở đây có vị Tỳ khưu, khi đi đến làng hay đi vào rừng, bị người ta nói rằng: ‘Vị tôn giả này có hành vi như vậy, có tư cách như vậy, là người không trong sạch, là cái gai của làng.’ Sau khi biết mình bị gọi là ‘cái gai’, vị ấy phải biết thế nào là có phòng hộ và thế nào là không phòng hộ.
Kathañca, bhikkhave, asaṁvaro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya. Ahiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. Susumāraṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
And how is someone unrestrained?
Take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
When they hear a sound with their ears …
When they smell an odor with their nose …
When they taste a flavor with their tongue …
When they feel a touch with their body …
When they know an idea with their mind, if it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
Suppose a person was to catch six animals, with diverse territories and feeding grounds, and tie them up with a strong rope. They’d catch a snake, a dolphin,
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là không phòng hộ? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi thấy một sắc pháp bằng mắt, liền say đắm đối với sắc pháp khả ái, sân hận đối với sắc pháp không khả ái, trú với thân niệm không được an lập và với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Sau khi nghe một âm thanh bằng tai... sau khi ngửi một mùi hương bằng mũi... sau khi nếm một vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận một xúc chạm bằng thân... sau khi nhận biết một pháp bằng ý, liền say đắm đối với pháp khả ái, sân hận đối với pháp không khả ái, trú với thân niệm không được an lập và với tâm nhỏ hẹp, và vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn.
Atha kho, te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṁ sakaṁ gocaravisayaṁ āviñcheyyuṁ—ahi āviñcheyya ‘vammikaṁ pavekkhāmī’ti, susumāro āviñcheyya ‘udakaṁ pavekkhāmī’ti, pakkhī āviñcheyya ‘ākāsaṁ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya ‘gāmaṁ pavekkhāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya ‘sīvathikaṁ pavekkhāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya ‘vanaṁ pavekkhāmī’ti. Yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā jhattā assu kilantā, atha kho yo nesaṁ pāṇakānaṁ balavataro assa tassa te anuvatteyyuṁ, anuvidhāyeyyuṁ vasaṁ gaccheyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, taṁ cakkhu āviñchati manāpiyesu rūpesu, amanāpiyā rūpā paṭikūlā honti …pe… mano āviñchati manāpiyesu dhammesu, amanāpiyā dhammā paṭikūlā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asaṁvaro hoti.
Then those six animals with different domains and ranges would each pull toward their own domain and range. The snake would pull one way, thinking ‘I’m going into a termite mound!’ The dolphin would pull another way, thinking ‘I’m going into the water!’ The bird would pull another way, thinking ‘I’m flying into the atmosphere!’ The dog would pull another way, thinking ‘I’m going into the village!’ The jackal would pull another way, thinking ‘I’m going into the charnel ground!’ The monkey would pull another way, thinking ‘I’m going into the jungle!’ When those six animals became exhausted and worn out, the strongest of them would get their way, and they’d all have to submit to their control.
In the same way, when a mendicant has not developed or cultivated mindfulness of the body, their eye pulls toward pleasant sights, but is put off by unpleasant sights. Their ear … nose … tongue … body … mind pulls toward pleasant ideas, but is put off by unpleasant ideas.
This is how someone is unrestrained.
“Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông bắt sáu con vật có lãnh địa khác nhau, có khu vực kiếm ăn khác nhau, rồi dùng một sợi dây chắc chắn trói chúng lại. Bắt con rắn rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con cá sấu rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con chim rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con chó rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con chó rừng rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con khỉ rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Sau khi đã dùng sợi dây chắc chắn trói lại, người ấy thắt một nút ở giữa rồi thả chúng ra. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, sáu con vật ấy có lãnh địa khác nhau, có khu vực kiếm ăn khác nhau, sẽ kéo về lãnh địa kiếm ăn của riêng mình – con rắn sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào trong gò mối,’ con cá sấu sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ xuống nước,’ con chim sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ bay lên trời,’ con chó sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào làng,’ con chó rừng sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào nghĩa địa,’ con khỉ sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào rừng.’ Này các Tỳ khưu, khi nào sáu con vật ấy trở nên mệt mỏi, kiệt sức, bấy giờ con vật nào trong số chúng khỏe hơn thì những con còn lại sẽ đi theo nó, thuận theo nó, chịu sự chi phối của nó. Tương tự như vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào không tu tập, không thực hành nhiều lần niệm thân, vị ấy bị mắt lôi kéo đến các sắc khả ý, và các sắc không khả ý trở nên đáng ghê tởm... (tương tự)... ý lôi kéo đến các pháp khả ý, và các pháp không khả ý trở nên đáng ghê tởm. Này các Tỳ khưu, như vậy là không có sự phòng hộ.”
Kathañca, bhikkhave, saṁvaro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
And how is someone restrained?
Take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with their mind. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là có sự phòng hộ? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, không đắm say ở sắc khả ái, không sân hận ở sắc không khả ái, vị ấy an trú với niệm thân được thiết lập và với tâm vô lượng, và vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn... (tương tự)... sau khi nếm vị bằng lưỡi... (tương tự)... sau khi nhận biết pháp bằng ý, không đắm say ở pháp khả ái, không sân hận ở pháp không khả ái, vị ấy an trú với niệm thân được thiết lập và với tâm vô lượng, và vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya. Ahiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. Susumāraṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. Pakkhiṁ gahetvā …pe… kukkuraṁ gahetvā … siṅgālaṁ gahetvā … makkaṭaṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. Daḷhāya rajjuyā bandhitvā daḷhe khīle vā thambhe vā upanibandheyya.
Atha kho te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṁ sakaṁ gocaravisayaṁ āviñcheyyuṁ—ahi āviñcheyya ‘vammikaṁ pavekkhāmī’ti, susumāro āviñcheyya ‘udakaṁ pavekkhāmī’ti, pakkhī āviñcheyya ‘ākāsaṁ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya ‘gāmaṁ pavekkhāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya ‘sīvathikaṁ pavekkhāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya ‘vanaṁ pavekkhāmī’ti. Yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā jhattā assu kilantā, atha tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upatiṭṭheyyuṁ, upanisīdeyyuṁ, upanipajjeyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, taṁ cakkhu nāviñchati manāpiyesu rūpesu, amanāpiyā rūpā nappaṭikūlā honti …pe… jivhā nāviñchati manāpiyesu rasesu …pe… mano nāviñchati manāpiyesu dhammesu, amanāpiyā dhammā nappaṭikūlā honti. Evaṁ kho, bhikkhave, saṁvaro hoti.
Suppose a person was to catch six animals, with diverse territories and feeding grounds, and tie them up with a strong rope. They’d catch a snake, a dolphin, a bird, a dog, a jackal, and a monkey, tie each up with a strong rope, then tether them to a strong post or pillar.
Then those six animals with different domains and ranges would each pull toward their own domain and range. The snake would pull one way, thinking ‘I’m going into a termite mound!’ The dolphin would pull another way, thinking ‘I’m going into the water!’ The bird would pull another way, thinking ‘I’m flying into the atmosphere!’ The dog would pull another way, thinking ‘I’m going into the village!’ The jackal would pull another way, thinking ‘I’m going into the charnel ground!’ The monkey would pull another way, thinking ‘I’m going into the jungle!’ When those six animals became exhausted and worn out, they’d stand or sit or lie down right by that post or pillar.
In the same way, when a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, their eye doesn’t pull toward pleasant sights, and isn’t put off by unpleasant sights. Their ear … nose … tongue … body … mind doesn’t pull toward pleasant ideas, and isn’t put off by unpleasant ideas. This is how someone is restrained.
“Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông bắt sáu con vật có lãnh địa khác nhau, có khu vực kiếm ăn khác nhau, rồi dùng một sợi dây chắc chắn trói chúng lại. Bắt con rắn rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con cá sấu rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con chim rồi... (tương tự)... bắt con chó rồi... bắt con chó rừng rồi... bắt con khỉ rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Sau khi đã dùng sợi dây chắc chắn trói lại, người ấy nên trói chúng vào một cái cọc hoặc một cái cột vững chắc. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, sáu con vật ấy có lãnh địa khác nhau, có khu vực kiếm ăn khác nhau, sẽ kéo về lãnh địa kiếm ăn của riêng mình – con rắn sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào trong gò mối,’ con cá sấu sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ xuống nước,’ con chim sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ bay lên trời,’ con chó sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào làng,’ con chó rừng sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào nghĩa địa,’ con khỉ sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào rừng.’ Này các Tỳ khưu, khi nào sáu con vật ấy trở nên mệt mỏi, kiệt sức, bấy giờ chúng sẽ đứng gần, ngồi gần, hoặc nằm gần chính cái cọc hoặc cái cột ấy. Tương tự như vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đã tu tập, đã thực hành nhiều lần niệm thân, vị ấy không bị mắt lôi kéo đến các sắc khả ý, và các sắc không khả ý không trở nên đáng ghê tởm... (tương tự)... lưỡi không lôi kéo đến các vị khả ý... (tương tự)... ý không lôi kéo đến các pháp khả ý, và các pháp không khả ý không trở nên đáng ghê tởm. Này các Tỳ khưu, như vậy là có sự phòng hộ.”
‘Daḷhe khīle vā thambhe vā’ti kho, bhikkhave, kāyagatāya satiyā etaṁ adhivacanaṁ.
Tasmātiha vo, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘kāyagatā no sati bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti. Evañhi kho, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dasamaṁ.
‘A strong post or pillar’ is a term for mindfulness of the body.
So you should train like this: ‘We will develop mindfulness of the body. We’ll cultivate it, make it our vehicle and our basis, keep it up, consolidate it, and properly implement it.’ That’s how you should train.”
“Này các Tỳ khưu, 'cái cọc hoặc cái cột vững chắc' chính là tên gọi khác của niệm thân. Do đó, này các Tỳ khưu, các ngươi nên tu tập như sau: 'Niệm thân của chúng ta sẽ được tu tập, được thực hành nhiều lần, được làm như cỗ xe, được làm như nền tảng, được thiết lập, được thực hành thuần thục, được khéo khởi sự.' Này các Tỳ khưu, các ngươi nên tu tập như vậy.” (Hết phẩm thứ mười).