- Saṁyutta Nikāya 35.244
- 19. Āsīvisavagga
Bản dịch
SN 35.244 — Kinh Về Các Pháp Khổ
Dukkhadhammasutta
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt của tất cả khổ pháp, khi ấy, các dục được thấy. Khi vị ấy thấy dục (kàmà), thời dục (kàmachanda), dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên nơi vị ấy. Như vậy, sở hành và sở trú của vị ấy được giác tri. Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, và sự chấm dứt tất cả khổ pháp? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng … Ðây là các hành … Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của tất cả khổ pháp.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo thấy được các dục? Khi các dục được thấy, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên. Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có ngọn, không có khói. Rồi có người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét bỏ khổ. Rồi hai người lực sĩ đến, kẹp người ấy vào trong các cánh tay, và kéo người ấy đến hố than hừng. Người ấy vật vã thân bên này, bên kia. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy được biết rằng: “Ta sẽ rơi vào trong hố than hừng này. Do nhân này, ta sẽ đi đến chết hay đau khổ gần như chết”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy các dục như hố than hừng và ai thấy được các dục, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên.
Vi-n 6 Thế nào, này các Tỷ-kheo, là sở hành và sở trú của Tỷ-kheo được giác tri? Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây … phía Bắc … phía Nam … người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: “Mong sao tôi chớ có bị vướng gai”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh.
Vi-n 7 Sau khi biết vậy, này các Tỷ-kheo, hộ trì và không hộ trì cần phải được hiểu.
Vi-n 8 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp các sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là được hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn … khi lưỡi nếm vị … khi ý biết pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có hộ trì.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện hữu. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm rơi hai hay ba giọt nước trên một nồi sắt được hơ nóng cả ngày. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là sự rơi xuống của các giọt nước. Mau chóng, chúng đi đến đoạn diệt, hoại diệt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện hữu.
Vi-n 11 Như vậy, này các Tỷ-kheo, sở hành như vậy, sở trú như vậy của Tỷ-kheo được giác tri. Do sở hành, sở trú như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản và nói: “Hãy đến đây, này Bạn! Sao lại để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra.
Vi-n 12 Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông. Rồi một đám dân chúng đông người đến với xuổng, cuốc, giỏ và nói: “Chúng ta hãy làm cho sông Hằng này hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, đám dân chúng đông người ấy có thể làm cho sông Hằng hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây và nghiêng nhập vào phía Tây không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Vì sao?
—Vì sông Hằng này, bạch Thế Tôn, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông; không có dễ gì làm cho hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây được. Chỉ có đám dân chúng đông người ấy chuốc lấy mệt mỏi và thất vọng thôi.
Vi-n 13 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu, hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản và nói: “Hãy đến đây, này Bạn. Sao lại để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì tâm của vị ấy đã lâu ngày hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nghiêng nhập vào viễn ly; do vậy sự hoàn tục không xảy ra.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.244
- 19. The Simile of the Vipers
Entailing Suffering
7. Kinh Về Các Pháp Khổ
“Yato kho, bhikkhave, bhikkhu sabbesaṁyeva dukkhadhammānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti. Tathā kho panassa kāmā diṭṭhā honti, yathāssa kāme passato, yo kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapariḷāho, so nānuseti. Tathā kho panassa cāro ca vihāro ca anubuddho hoti, yathā carantaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā nānusenti.
“Mendicants, when a mendicant truly understands the origin and disappearance of all things that entail suffering, then they’ve seen sensual pleasures in such a way that they have no underlying tendency for desire, affection, infatuation, and passion for sensual pleasures. And they’ve awakened to a way of conduct and a way of living such that, when they live in that way, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure don’t overwhelm them.
244. Này các tỳ khưu, khi vị tỳ khưu như thật tuệ tri sự sanh khởi và sự đoạn diệt của tất cả các pháp khổ. Khi ấy, các dục được vị ấy thấy đúng theo cách mà khi vị ấy thấy các dục, dục tham, dục ái, dục mê, dục nhiệt não ở trong các dục không còn tiềm ẩn. Khi ấy, sự đi và sự ở của vị ấy được giác ngộ đúng theo cách mà khi vị ấy đang đi, đang ở, các pháp ác bất thiện là tham và ưu không còn tiềm ẩn.
Kathañca, bhikkhave, sabbesaṁyeva dukkhadhammānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti?
‘Iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā … iti saññā … iti saṅkhārā … iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti—
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sabbesaṁyeva dukkhadhammānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti.
And how does a mendicant truly understand the origin and disappearance of all things that entail suffering?
‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling … perception … choices … consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’
That’s how a mendicant truly understands the origin and disappearance of all things that entail suffering.
Này các tỳ khưu, và thế nào là vị tỳ khưu như thật tuệ tri sự sanh khởi và sự đoạn diệt của tất cả các pháp khổ? ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Này các tỳ khưu, chính như vậy là vị tỳ khưu như thật tuệ tri sự sanh khởi và sự đoạn diệt của tất cả các pháp khổ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhuno kāmā diṭṭhā honti? Yathāssa kāme passato, yo kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapariḷāho, so nānuseti.
Seyyathāpi, bhikkhave, aṅgārakāsu sādhikaporisā puṇṇā aṅgārānaṁ vītaccikānaṁ vītadhūmānaṁ. Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhapaṭikūlo. Tamenaṁ dve balavanto purisā nānābāhāsu gahetvā, taṁ aṅgārakāsuṁ upakaḍḍheyyuṁ. So iticīticeva kāyaṁ sannāmeyya. Taṁ kissa hetu? Ñātañhi, bhikkhave, tassa purisassa imañcāhaṁ aṅgārakāsuṁ papatissāmi, tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchissāmi maraṇamattaṁ vā dukkhanti.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā diṭṭhā honti, yathāssa kāme passato, yo kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapariḷāho, so nānuseti.
And how has a mendicant seen sensual pleasures in such a way that they have no underlying tendency for desire, affection, infatuation, and passion for sensual pleasures?
Suppose there was a pit of glowing coals deeper than a man’s height, filled with glowing coals that neither flamed nor smoked. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. Two strong men would grab each arm and drag them toward the pit of glowing coals. They’d writhe and struggle to and fro. Why is that? For that person knows, ‘If I fall in that pit of glowing coals, that will result in my death or deadly pain.’
In the same way, when a mendicant has seen sensual pleasures as like a pit of glowing coals, they have no underlying tendency for desire, affection, infatuation, and passion for sensual pleasures.
Này các tỳ khưu, và thế nào là các dục được vị tỳ khưu thấy? Theo cách mà khi vị ấy thấy các dục, dục tham, dục ái, dục mê, dục nhiệt não ở trong các dục không còn tiềm ẩn. Này các tỳ khưu, ví như có hố than sâu hơn một sải tay, đầy những than hồng không có ngọn lửa, không có khói. Rồi có một người đàn ông đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghét sự đau khổ. Rồi có hai người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy hai cánh tay của người ấy và kéo đến hố than. Khi ấy, người đàn ông kia sẽ nghiêng thân qua bên này, nghiêng thân qua bên kia. Điều ấy vì lý do gì? Này các tỳ khưu, vì người đàn ông ấy biết rằng: ‘Ta sẽ bị rơi vào hố than này, do nhân duyên ấy ta sẽ đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần như chết.’ Này các tỳ khưu, tương tự y như thế, các dục được vị tỳ khưu thấy như ví dụ về hố than, theo cách mà khi vị ấy thấy các dục, dục tham, dục ái, dục mê, dục nhiệt não ở trong các dục không còn tiềm ẩn.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhuno cāro ca vihāro ca anubuddho hoti, yathā carantaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā nānussavanti?
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso bahukaṇṭakaṁ dāyaṁ paviseyya. Tassa puratopi kaṇṭako, pacchatopi kaṇṭako, uttaratopi kaṇṭako, dakkhiṇatopi kaṇṭako, heṭṭhatopi kaṇṭako, uparitopi kaṇṭako. So satova abhikkameyya, satova paṭikkameyya: ‘mā maṁ kaṇṭako’ti.
Evameva kho, bhikkhave, yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, ayaṁ vuccati ariyassa vinaye kaṇṭako”ti. Iti viditvā saṁvaro ca asaṁvaro ca veditabbo.
And how has a mendicant awakened to a way of conduct and a way of living such that, when they live in that way, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure don’t overwhelm them?
Suppose a person was to enter a thicket full of thorns. They’d have thorns before and behind, to the left and right, below and above. So they’d go forward mindfully and come back mindfully, thinking, ‘May I not get any thorns!’
In the same way, whatever in the world seems nice and pleasant is called a thorn in the training of the Noble One. Understanding that this is a thorn, they should understand restraint and lack of restraint.
Này các tỳ khưu, và thế nào là sự đi và sự ở của vị tỳ khưu được giác ngộ, theo cách mà khi vị ấy đang đi, đang ở, các pháp ác bất thiện là tham và ưu không còn tiềm ẩn? Này các tỳ khưu, ví như có một người đàn ông đi vào một khu rừng có nhiều gai. Phía trước người ấy có gai, phía sau có gai, phía bắc có gai, phía nam có gai, phía dưới có gai, phía trên có gai. Người ấy sẽ bước tới với chánh niệm, sẽ bước lui với chánh niệm, nghĩ rằng: ‘Mong rằng gai đừng đâm vào ta.’ Này các tỳ khưu, tương tự y như thế, cái gì ở trên đời là hình sắc khả ái, hình sắc khả ý, điều này được gọi là ‘gai’ ở trong giới luật của bậc Thánh. Sau khi biết được như vậy, sự phòng hộ và sự không phòng hộ cần phải được biết đến.
Kathañca, bhikkhave, asaṁvaro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asaṁvaro hoti.
And how is someone unrestrained?
Take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with their mind. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
This is how someone is unrestrained.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là không phòng hộ? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi thấy một sắc pháp bằng mắt, liền say đắm đối với sắc pháp khả ái, sân hận đối với sắc pháp không khả ái, trú với thân niệm không được an lập và với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Sau khi nghe một âm thanh bằng tai... sau khi ngửi một mùi hương bằng mũi... sau khi nếm một vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận một xúc chạm bằng thân... sau khi nhận biết một pháp bằng ý, liền say đắm đối với pháp khả ái, sân hận đối với pháp không khả ái, trú với thân niệm không được an lập và với tâm nhỏ hẹp, và vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn.
Kathañca, bhikkhave, saṁvaro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
And how is someone restrained?
Take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with their mind. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là có sự phòng hộ? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, không đắm say ở sắc khả ái, không sân hận ở sắc không khả ái, vị ấy an trú với niệm thân được thiết lập và với tâm vô lượng, và vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn... (tương tự)... sau khi nếm vị bằng lưỡi... (tương tự)... sau khi nhận biết pháp bằng ý, không đắm say ở pháp khả ái, không sân hận ở pháp không khả ái, vị ấy an trú với niệm thân được thiết lập và với tâm vô lượng, và vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn.”
Evaṁ kho, bhikkhave, saṁvaro hoti.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁ carato evaṁ viharato kadāci karahaci satisammosā uppajjanti, pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṁyojaniyā, dandho, bhikkhave, satuppādo. Atha kho naṁ khippameva pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso divasaṁsantatte ayokaṭāhe dve vā tīṇi vā udakaphusitāni nipāteyya. Dandho, bhikkhave, udakaphusitānaṁ nipāto, atha kho naṁ khippameva parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya.
This is how someone is restrained.
Perhaps while that mendicant is conducting themselves and living in this way, bad, unskillful memories and thoughts that tighten the fetters arise every so often due to loss of mindfulness. Slowly mindfulness arises, but then they quickly give up, dispel, eliminate, and obliterate those thoughts.
Suppose there was an iron cauldron that had been heated all day, and a person let two or three drops of water fall onto it. Slowly the drops fall, but then they quickly dry up and evaporate.
“Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông bắt sáu con vật có lãnh địa khác nhau, có khu vực kiếm ăn khác nhau, rồi dùng một sợi dây chắc chắn trói chúng lại. Bắt con rắn rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con cá sấu rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con chim rồi... (tương tự)... bắt con chó rồi... bắt con chó rừng rồi... bắt con khỉ rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Sau khi đã dùng sợi dây chắc chắn trói lại, người ấy nên trói chúng vào một cái cọc hoặc một cái cột vững chắc. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, sáu con vật ấy có lãnh địa khác nhau, có khu vực kiếm ăn khác nhau, sẽ kéo về lãnh địa kiếm ăn của riêng mình – con rắn sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào trong gò mối,’ con cá sấu sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ xuống nước,’ con chim sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ bay lên trời,’ con chó sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào làng,’ con chó rừng sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào nghĩa địa,’ con khỉ sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào rừng.’ Này các Tỳ khưu, khi nào sáu con vật ấy trở nên mệt mỏi, kiệt sức, bấy giờ chúng sẽ đứng gần, ngồi gần, hoặc nằm gần chính cái cọc hoặc cái cột ấy. Tương tự như vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào đã tu tập, đã thực hành nhiều lần niệm thân, vị ấy không bị mắt lôi kéo đến các sắc khả ý, và các sắc không khả ý không trở nên đáng ghê tởm... (tương tự)... lưỡi không lôi kéo đến các vị khả ý... (tương tự)... ý không lôi kéo đến các pháp khả ý, và các pháp không khả ý không trở nên đáng ghê tởm. Này các Tỳ khưu, như vậy là có sự phòng hộ.”
Evameva kho, bhikkhave, tassa ce bhikkhuno evaṁ carato, evaṁ viharato kadāci karahaci satisammosā uppajjanti pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṁyojaniyā, dandho, bhikkhave, satuppādo. Atha kho naṁ khippameva pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
In the same way, perhaps while that mendicant is conducting themselves and living in this way, bad, unskillful memories and thoughts that tighten the fetters arise every so often due to loss of mindfulness. Slowly mindfulness arises, but then they quickly give up, dispel, eliminate, and obliterate those thoughts.
247. “Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông có thân thể đầy thương tích, đầy mụn nhọt đi vào một khu rừng gai. Gai kusa sẽ đâm vào chân của người ấy, và lá cây sara sẽ cào rách các vết thương trên thân thể của người ấy. Như vậy, này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy sẽ cảm nhận sự đau đớn và buồn khổ nhiều hơn nữa do nguyên nhân đó. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, ở đây có vị Tỳ khưu, khi đi đến làng hay đi vào rừng, bị người ta nói rằng: ‘Vị tôn giả này có hành vi như vậy, có tư cách như vậy, là người không trong sạch, là cái gai của làng.’ Sau khi biết mình bị gọi là ‘cái gai’, vị ấy phải biết thế nào là có phòng hộ và thế nào là không phòng hộ.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno cāro ca vihāro ca anubuddho hoti; yathā carantaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā nānussavanti.
Tañce, bhikkhave, bhikkhuṁ evaṁ carantaṁ evaṁ viharantaṁ rājāno vā rājamahāmattā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā, bhogehi abhihaṭṭhuṁ pavāreyyuṁ: ‘ehi, bho purisa, kiṁ te ime kāsāvā anudahanti, kiṁ muṇḍo kapālamanucarasi, ehi hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu, puññāni ca karohī’ti. So vata, bhikkhave, bhikkhu evaṁ caranto evaṁ viharanto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā. Atha mahājanakāyo āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya: ‘mayaṁ imaṁ gaṅgaṁ nadiṁ pacchāninnaṁ karissāma pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu kho so mahājanakāyo gaṅgaṁ nadiṁ pacchāninnaṁ kareyya pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Gaṅgā, bhante, nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā; sā na sukarā pacchāninnā kātuṁ pacchāpoṇā pacchāpabbhārā. Yāvadeva ca pana so mahājanakāyo kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, tañce bhikkhuṁ evaṁ carantaṁ evaṁ viharantaṁ rājāno vā rājamahāmattā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā bhogehi abhihaṭṭhuṁ pavāreyyuṁ: ‘ehi, bho purisa, kiṁ te ime kāsāvā anudahanti, kiṁ muṇḍo kapālamanucarasi, ehi hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu, puññāni ca karohī’ti. So vata, bhikkhave, bhikkhu evaṁ caranto evaṁ viharanto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Taṁ kissa hetu? Yañhi taṁ, bhikkhave, cittaṁ dīgharattaṁ vivekaninnaṁ vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ, tathā hīnāyāvattissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Sattamaṁ.
This is how a mendicant has awakened to a way of conduct and a way of living such that, when they live in that way, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure don’t overwhelm them.
While that mendicant conducts themselves in this way and lives in this way, it may be that rulers or their chief ministers, friends or colleagues, relatives or family would invite them to accept wealth, saying, ‘Please, my man, why let these ocher robes torment you? Why follow the practice of shaving your head and carrying an alms bowl? Come, return to a lesser life, enjoy wealth, and make merit!’ But it is quite impossible for a mendicant who conducts themselves in this way and lives in this way to resign the training and return to a lesser life.
Suppose that, although the Ganges River slants, slopes, and inclines to the east, a large crowd were to come along with a spade and basket, saying: ‘We’ll make this Ganges Riiver slant, slope, and incline to the west!’
What do you think, mendicants? Would they still succeed?”
“No, sir. Why is that? The Ganges River slants, slopes, and inclines to the east. It’s not easy to make it slant, slope, and incline to the west. That large crowd will eventually get weary and frustrated.”
“In the same way, while that mendicant conducts themselves in this way and lives in this way, it may be that rulers or their chief ministers, friends or colleagues, relatives or family should invite them to accept wealth, saying, ‘Please, my man, why let these ocher robes torment you? Why follow the practice of shaving your head and carrying an alms bowl? Come, return to a lesser life, enjoy wealth, and make merit!’ But it is quite impossible for a mendicant who conducts themselves in this way and lives in this way to resign the training and return to a lesser life.
Why is that? Because for a long time that mendicant’s mind has slanted, sloped, and inclined to seclusion. So it’s impossible for them to return to a lesser life.”
“Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông bắt sáu con vật có lãnh địa khác nhau, có khu vực kiếm ăn khác nhau, rồi dùng một sợi dây chắc chắn trói chúng lại. Bắt con rắn rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con cá sấu rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con chim rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con chó rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con chó rừng rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Bắt con khỉ rồi dùng sợi dây chắc chắn trói lại. Sau khi đã dùng sợi dây chắc chắn trói lại, người ấy thắt một nút ở giữa rồi thả chúng ra. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, sáu con vật ấy có lãnh địa khác nhau, có khu vực kiếm ăn khác nhau, sẽ kéo về lãnh địa kiếm ăn của riêng mình – con rắn sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào trong gò mối,’ con cá sấu sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ xuống nước,’ con chim sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ bay lên trời,’ con chó sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào làng,’ con chó rừng sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào nghĩa địa,’ con khỉ sẽ kéo đi với ý nghĩ: ‘Ta sẽ vào rừng.’ Này các Tỳ khưu, khi nào sáu con vật ấy trở nên mệt mỏi, kiệt sức, bấy giờ con vật nào trong số chúng khỏe hơn thì những con còn lại sẽ đi theo nó, thuận theo nó, chịu sự chi phối của nó. Tương tự như vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào không tu tập, không thực hành nhiều lần niệm thân, vị ấy bị mắt lôi kéo đến các sắc khả ý, và các sắc không khả ý trở nên đáng ghê tởm... (tương tự)... ý lôi kéo đến các pháp khả ý, và các pháp không khả ý trở nên đáng ghê tởm. Này các Tỳ khưu, như vậy là không có sự phòng hộ.”