- Saṁyutta Nikāya 35.245
- 19. Āsīvisavagga
Bản dịch
SN 35.245 — Kinh Ví Dụ Cây Gòn
Kiṁsukopamasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến một Tỷ-kheo khác, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:
—Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, Tỷ-kheo khi nào như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của sáu xúc xứ; cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 3 Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác và nói:
—Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 4 Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác nữa và nói:
—Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 5 Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn …
—Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết rằng, phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều phải đoạn diệt; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.
Vi-n 6 Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến một Tỷ-kheo và nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời của Tỷ-kheo kia nên đi đến một Tỷ-kheo khác; sau khi đến, con nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của một Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào, này Hiền giả, Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của năm thủ uẩn … như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng … như thật tuệ tri rằng, phàm có pháp gì được tập khởi, tất cả pháp ấy bị đoạn diệt, cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia nên con đi đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn: “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?”
Vi-n 7 —Ví như, này Tỷ-kheo, một người chưa từng thấy cây kimsuka, người ấy đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka và nói: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?”. Người ấy đáp như sau: “Này Bạn, cây kimsuma màu đen, như một khúc cây bị cháy”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, hỏi người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka màu đỏ, giống như một đống thịt”. Và này Tỷ-kheo, như vậy trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka bị lột vỏ, vỏ bị nứt nẻ ra như cây keo (sirìso)”. Này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia nói như sau: “Này Bạn, cây kimsuka có lá rậm rạp, bóng của nó dày và rậm, như cây bàng”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, tùy theo sự thấy của Chân nhân ấy khéo thanh tịnh, tùy thuộc theo đấy, họ đã trả lời.
Vi-n 8 Ví như, này Tỷ-kheo, có ngôi thành của vua ở biên giới được xây dựng với pháo đài kiên cố, với tường và tháp canh kiên cố và có đến sáu cửa thành. Tại đấy có người giữ cửa thành, là bậc thông minh, có kinh nghiệm và có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Từ phương Ðông, hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữa cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục đi theo con đường họ đến. Từ phương Tây, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến … từ phương Bắc, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữ cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Rồi hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục theo con đường họ đến.
Vi-n 9 Này Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ để giải thích ý nghĩa, và đây là ý nghĩa: Ngôi thành, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân do bốn đại chủng tạo thành này, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tiêu mòn, tiêu hao, hủy hoại, hủy diệt. Sáu cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Người giữ cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với niệm. Hai vị sứ giả cấp tốc, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với chỉ và quán. Người chủ ngôi thành là đồng nghĩa với thức. Ở giữa tại ngã tư đường là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới. Lời như thật ngữ, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Theo con đường họ đến là đồng nghĩa với con đường Thánh đạo Tám ngành. Như chánh tri kiến … chánh định.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.245
- 19. The Simile of the Vipers
The Simile of the Parrot Tree
8. Kinh Ví Dụ Cây Gòn
Atha kho aññataro bhikkhu yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: “kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Then one mendicant went up to another mendicant and asked, “Reverend, at what point is a mendicant’s vision well purified?”
“When a mendicant truly understands the origin and disappearance of the six fields of contact, at that point their vision is well purified.”
245. Rồi một Tỳ khưu đi đến một Tỳ khưu khác; sau khi đến, vị ấy nói với Tỳ khưu kia rằng: ‘Thưa hiền giả, cho đến mức độ nào thì tri kiến của một Tỳ khưu được xem là hoàn toàn trong sạch?’ ‘Này hiền giả, khi nào một Tỳ khưu như thật tuệ tri sự sanh khởi và sự đoạn diệt của sáu xứ xúc, này hiền giả, cho đến mức độ ấy, tri kiến của một Tỳ khưu được xem là hoàn toàn trong sạch.’
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: “kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
Not content with that answer, that mendicant went up to a series of other mendicants and received the following answers:
“When a mendicant truly understands the origin and disappearance of the five grasping aggregates, at that point their vision is well purified.”
Rồi Tỳ khưu ấy, không hài lòng với câu trả lời của Tỳ khưu kia, đã đi đến một Tỳ khưu khác; sau khi đến, vị ấy nói với Tỳ khưu kia rằng: ‘Thưa hiền giả, cho đến mức độ nào thì tri kiến của một Tỳ khưu được xem là hoàn toàn trong sạch?’ ‘Này hiền giả, khi nào một Tỳ khưu như thật tuệ tri sự sanh khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn, này hiền giả, cho đến mức độ ấy, tri kiến của một Tỳ khưu được xem là hoàn toàn trong sạch.’
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: “kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu catunnaṁ mahābhūtānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
“When a mendicant truly understands the origin and disappearance of the four principal states, at that point their vision is well purified.”
Rồi Tỳ khưu ấy, không hài lòng với câu trả lời của Tỳ khưu kia, đã đi đến một Tỳ khưu khác; sau khi đến, vị ấy nói với Tỳ khưu kia rằng: ‘Thưa hiền giả, cho đến mức độ nào thì tri kiến của một Tỳ khưu được xem là hoàn toàn trong sạch?’ ‘Này hiền giả, khi nào một Tỳ khưu như thật tuệ tri sự sanh khởi và sự đoạn diệt của bốn đại, này hiền giả, cho đến mức độ ấy, tri kiến của một Tỳ khưu được xem là hoàn toàn trong sạch.’
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: “kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu yaṁ kiñci samudayadhammaṁ, sabbaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti.
“When a mendicant truly understands that everything that is liable to arise is liable to cease, at that point their vision is well purified.”
Rồi Tỳ khưu ấy, không hài lòng với câu trả lời của Tỳ khưu kia, đã đi đến một Tỳ khưu khác; sau khi đến, vị ấy nói với Tỳ khưu kia rằng: ‘Thưa hiền giả, cho đến mức độ nào thì tri kiến của một Tỳ khưu được xem là hoàn toàn trong sạch?’ ‘Này hiền giả, khi nào một Tỳ khưu như thật tuệ tri rằng: “Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt”, này hiền giả, cho đến mức độ ấy, tri kiến của một Tỳ khưu được xem là hoàn toàn trong sạch.’
Atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “idhāhaṁ, bhante, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti? Evaṁ vutte, bhante, so bhikkhu maṁ etadavoca: ‘yato kho, āvuso, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti. Atha khvāhaṁ, bhante, asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ: ‘kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti? Evaṁ vutte, bhante, so bhikkhu maṁ etadavoca: ‘yato kho, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ …pe… catunnaṁ mahābhūtānaṁ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti …pe… yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī’ti. Atha khvāhaṁ, bhante, asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ (…). Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhuno dassanaṁ suvisuddhaṁ hotī”ti?
Not content with any of those answers, that mendicant went up to the Buddha and told him what had happened. Then he said to him, “Sir, at what point is a mendicant’s vision well purified?”
Bấy giờ, vị Tỳ khưu ấy không hài lòng với câu trả lời của vị Tỳ khưu kia, bèn đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, ở đây, con đã đi đến một Tỳ khưu khác; sau khi đến, con đã hỏi vị Tỳ khưu ấy điều này: ‘Thưa Hiền giả, đến mức độ nào thì tri kiến của một Tỳ khưu được hoàn toàn trong sạch?’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, vị Tỳ khưu ấy đã nói với con điều này: ‘Này Hiền giả, khi nào vị Tỳ khưu như thật biết rõ sự sanh khởi và sự đoạn diệt của sáu xứ xúc, đến mức độ ấy, này Hiền giả, tri kiến của vị Tỳ khưu được hoàn toàn trong sạch.’ Bạch Thế Tôn, bấy giờ con không hài lòng với câu trả lời của vị Tỳ khưu ấy, bèn đi đến một Tỳ khưu khác; sau khi đến, con đã hỏi vị Tỳ khưu ấy điều này: ‘Thưa Hiền giả, đến mức độ nào thì tri kiến của một Tỳ khưu được hoàn toàn trong sạch?’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, vị Tỳ khưu ấy đã nói với con điều này: ‘Này Hiền giả, khi nào vị Tỳ khưu như thật biết rõ sự sanh khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn… của bốn đại giới… Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt, vị ấy như thật biết rõ điều đó, đến mức độ ấy, này Hiền giả, tri kiến của vị Tỳ khưu được hoàn toàn trong sạch.’ Bạch Thế Tôn, bấy giờ con không hài lòng với câu trả lời của vị Tỳ khưu ấy, bèn đi đến chỗ Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, đến mức độ nào thì tri kiến của một Tỳ khưu được hoàn toàn trong sạch?”
“Seyyathāpi, bhikkhu, purisassa kiṁsuko adiṭṭhapubbo assa. So yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya. Upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya: ‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti?
So evaṁ vadeyya: ‘kāḷako kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi jhāmakhāṇū’ti. Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Atha kho so, bhikkhu, puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya: ‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti? So evaṁ vadeyya: ‘lohitako kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi maṁsapesī’ti. Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko yathāpi tassa purisassa dassanaṁ. Atha kho so bhikkhu puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya: ‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti? So evaṁ vadeyya: ‘ocīrakajāto kho, ambho purisa, kiṁsuko ādinnasipāṭiko—seyyathāpi sirīso’ti. Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko, yathāpi tassa purisassa dassanaṁ. Atha kho so bhikkhu puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṁsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṁ purisaṁ evaṁ vadeyya: ‘kīdiso, bho purisa, kiṁsuko’ti? So evaṁ vadeyya: ‘bahalapattapalāso sandacchāyo kho, ambho purisa, kiṁsuko—seyyathāpi nigrodho’ti. Tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṁsuko, yathāpi tassa purisassa dassanaṁ.
Evameva kho, bhikkhu, yathā yathā adhimuttānaṁ tesaṁ sappurisānaṁ dassanaṁ suvisuddhaṁ hoti tathā tathā kho tehi sappurisehi byākataṁ.
“Mendicant, suppose a person had never seen a parrot tree before. They’d go up to someone who had seen a parrot tree and ask them, ‘My man, what’s a parrot tree like?’
They’d say, ‘A parrot tree is blackish, like a charred stump.’ Now, at that time a parrot tree may well have been just as that person saw it.
Not content with that answer, that person would go up to a series of other people and receive the following answers: ‘A parrot tree is reddish, like a scrap of meat.’ ‘A parrot tree has flaking bark and burst pods, like a lebbeck tree.’ ‘A parrot tree has luxuriant, shady foliage, like a banyan.’ Now, at each of those times a parrot tree may well have been just as those people saw them.
In the same way, those true persons each answered according to what they were focused on when their vision was well purified.
“Này Tỳ khưu, ví như có một người đàn ông chưa từng thấy cây kiṃsuka. Người ấy có thể đi đến một người đàn ông khác đã từng thấy cây kiṃsuka. Sau khi đến, người ấy có thể hỏi người đàn ông kia như sau: ‘Thưa ông, cây kiṃsuka trông như thế nào?’ Người kia có thể trả lời: ‘Này ông, cây kiṃsuka màu đen, giống như một khúc cây bị cháy.’ Này Tỳ khưu, vào lúc ấy, cây kiṃsuka quả thật đúng như người đàn ông ấy đã thấy. Bấy giờ, này Tỳ khưu, người đàn ông ấy không hài lòng với câu trả lời của người kia, bèn đi đến một người đàn ông khác đã từng thấy cây kiṃsuka; sau khi đến, người ấy hỏi người đàn ông kia như sau: ‘Thưa ông, cây kiṃsuka trông như thế nào?’ Người kia có thể trả lời: ‘Này ông, cây kiṃsuka màu đỏ, giống như một miếng thịt.’ Này Tỳ khưu, vào lúc ấy, cây kiṃsuka quả thật đúng như người đàn ông ấy đã thấy. Bấy giờ, này Tỳ khưu, người đàn ông ấy không hài lòng với câu trả lời của người kia, bèn đi đến một người đàn ông khác đã từng thấy cây kiṃsuka; sau khi đến, người ấy hỏi người đàn ông kia như sau: ‘Thưa ông, cây kiṃsuka trông như thế nào?’ Người kia có thể trả lời: ‘Này ông, cây kiṃsuka có vỏ rũ xuống và có những quả đậu, giống như cây sirīsa.’ Này Tỳ khưu, vào lúc ấy, cây kiṃsuka quả thật đúng như người đàn ông ấy đã thấy. Bấy giờ, này Tỳ khưu, người đàn ông ấy không hài lòng với câu trả lời của người kia, bèn đi đến một người đàn ông khác đã từng thấy cây kiṃsuka; sau khi đến, người ấy hỏi người đàn ông kia như sau: ‘Thưa ông, cây kiṃsuka trông như thế nào?’ Người kia có thể trả lời: ‘Này ông, cây kiṃsuka có lá và cành rậm rạp, có bóng mát, giống như cây đa.’ Này Tỳ khưu, vào lúc ấy, cây kiṃsuka quả thật đúng như người đàn ông ấy đã thấy. Cũng vậy, này Tỳ khưu, tùy theo mức độ thắng giải của những thiện nhân ấy mà tri kiến của họ được hoàn toàn trong sạch, và họ đã trả lời tùy theo mức độ ấy.”
Seyyathāpi, bhikkhu, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ chadvāraṁ. Tatrassa dovāriko paṇḍito byatto medhāvī, aññātānaṁ nivāretā, ñātānaṁ pavesetā.
Puratthimāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ taṁ dovārikaṁ evaṁ vadeyya: ‘kahaṁ, bho purisa, imassa nagarassa nagarassāmī’ti?
So evaṁ vadeyya: ‘eso, bhante, majjhe siṅghāṭake nisinno’ti.
Atha kho taṁ sīghaṁ dūtayugaṁ nagarassāmikassa yathābhūtaṁ vacanaṁ niyyātetvā yathāgatamaggaṁ paṭipajjeyya.
Pacchimāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ …pe… uttarāya disāya … dakkhiṇāya disāya āgantvā sīghaṁ dūtayugaṁ taṁ dovārikaṁ evaṁ vadeyya: ‘kahaṁ, bho purisa, imassa nagarassāmī’ti? So evaṁ vadeyya: ‘eso, bhante, majjhe siṅghāṭake nisinno’ti. Atha kho taṁ sīghaṁ dūtayugaṁ nagarassāmikassa yathābhūtaṁ vacanaṁ niyyātetvā yathāgatamaggaṁ paṭipajjeyya.
Suppose there was a king’s frontier citadel with fortified embankments, ramparts, and arches, and six gates. And it has a gatekeeper who is astute, competent, and intelligent. He keeps strangers out and lets known people in.
A swift pair of messengers would arrive from the east and say to the gatekeeper, ‘Worthy man, where is the lord of the city?’
They’d say, ‘There he is, sirs, seated at the central square.’
Then that swift pair of messengers would deliver a message of truth to the lord of the city and depart the way they came.
A swift pair of messengers would come from the west … north … south … deliver a message of truth to the lord of the city and depart the way they came.
“Này Tỳ khưu, ví như một thành phố biên thùy của đức vua, có thành lũy vững chắc, có tường và cổng kiên cố, và có sáu cửa. Ở đó có một người gác cổng thông minh, tài giỏi, sáng suốt, ngăn chặn những người không quen biết và cho vào những người quen biết. Một cặp sứ giả nhanh nhẹn từ phương đông đến và hỏi người gác cổng: ‘Này ông, vị chúa của thành phố này ở đâu?’ Người ấy sẽ trả lời: ‘Thưa các ngài, vị ấy đang ngồi ở ngã tư giữa thành phố.’ Bấy giờ, cặp sứ giả nhanh nhẹn ấy, sau khi trình báo đúng sự thật cho vị chúa của thành phố, sẽ đi theo con đường đã đến. Một cặp sứ giả nhanh nhẹn từ phương tây đến… từ phương bắc… từ phương nam đến và hỏi người gác cổng: ‘Này ông, vị chúa của thành phố này ở đâu?’ Người ấy sẽ trả lời: ‘Thưa các ngài, vị ấy đang ngồi ở ngã tư giữa thành phố.’ Bấy giờ, cặp sứ giả nhanh nhẹn ấy, sau khi trình báo đúng sự thật cho vị chúa của thành phố, sẽ đi theo con đường đã đến.”
Upamā kho myāyaṁ, bhikkhu, katā atthassa viññāpanāya. Ayañcettha attho:
‘nagaran’ti kho, bhikkhu, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
‘Cha dvārā’ti kho, bhikkhu, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ.
‘Dovāriko’ti kho, bhikkhu, satiyā etaṁ adhivacanaṁ.
‘Sīghaṁ dūtayugan’ti kho, bhikkhu, samathavipassanānetaṁ adhivacanaṁ.
‘Nagarassāmī’ti kho, bhikkhu, viññāṇassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Majjhe siṅghāṭako’ti kho, bhikkhu, catunnetaṁ mahābhūtānaṁ adhivacanaṁ—pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā.
‘Yathābhūtaṁ vacanan’ti kho, bhikkhu, nibbānassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Yathāgatamaggo’ti kho, bhikkhu, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhiyā …pe… sammāsamādhissā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
I’ve made up this simile to make a point. And this is the point.
‘City’ is a term for this body made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction.
‘Six gates’ is a term for the six interior sense fields.
‘Gatekeeper’ is a term for mindfulness.
‘A swift pair of messengers’ is a term for serenity and discernment.
‘The lord of the city’ is a term for consciousness.
‘The central square’ is a term for the four principal states: the elements of earth, water, fire, and air.
‘A message of truth’ is a term for extinguishment.
‘The way they came’ is a term for the noble eightfold path, that is, right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.”
“Này Tỳ khưu, ví dụ này được Ta đưa ra để làm sáng tỏ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa trong đó: Này Tỳ khưu, ‘thành phố’ là tên gọi của thân này, được tạo thành từ bốn đại chủng, do cha mẹ sanh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, có bản chất vô thường, cần được xoa bóp, đấm nắn, bị tan rã, bị hủy hoại. Này Tỳ khưu, ‘sáu cửa’ là tên gọi của sáu nội xứ. Này Tỳ khưu, ‘người gác cổng’ là tên gọi của niệm. Này Tỳ khưu, ‘cặp sứ giả nhanh chóng’ là tên gọi của chỉ và quán. Này Tỳ khưu, ‘chủ thành’ là tên gọi của thức. Này Tỳ khưu, ‘ngã tư ở giữa’ là tên gọi của bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại. Này Tỳ khưu, ‘lời nói như thật’ là tên gọi của Niết-bàn. Này Tỳ khưu, ‘con đường đã đi’ là tên gọi của Thánh đạo Tám ngành, tức là: Chánh kiến... cho đến... Chánh định.” Tám.