- Saṁyutta Nikāya 35.243
- 19. Āsīvisavagga
Bản dịch
SN 35.243 — Kinh Pháp Môn Về Lậu Hoặc
Avassutapariyāyasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong vườn Nigrodha.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ có một hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở.
Vi-n 3 Rồi một số người Sakka ở Kapilavatthu đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các người Sakka ở Kapilavatthu bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, có hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy sử dụng ngôi nhà ấy đầu tiên, rồi sau các người Sakka ở Kapilavatthu sẽ sử dụng. Như vậy, sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho những người Sakka ở Kapilivatthu.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 5 Những người Sakka ở Kapilavatthu sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi đi đến hội đường mới ấy. Sau khi đến, họ cho trải toàn bộ hội đường với những tấm đệm, cho bày biện các chỗ ngồi, cho sắp đặt ghè nước, cho treo đèn dầu, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, toàn bộ hội đường đã được trải đệm. Các chỗ ngồi đã được bày biện. Một ghè nước đã được đặt sẵn. Ngọn đèn dầu đã được treo lên. Nay Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời.
Vi-n 6 Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến hội đường mới; sau khi đến, rửa chân, đi vào hội đường và ngồi dựa vào cây cột ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, và ngồi dựa vào bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, với Thế Tôn trước mặt. Các người Sakka ở Kapilavatthu, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, ngồi dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt về phía Tây, với Thế Tôn phía trước mặt.
Vi-n 7 Rồi Thế Tôn, phần lớn của đêm, với pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các người Sakka ở Kapilavatthu. Rồi Thế Tôn giải tán họ với câu:
—Này các Sakka, đêm đã quá khuya, nay các Ông hãy làm những gì các Ông nghĩ là hợp thời.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các người Sakka ở Kapilavatthu vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Này Moggallāna, chúng Tỷ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggallāna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỷ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggallāna vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy.
Vi-n 10 Ở đây, Tôn giả Mahà Moggallāna gọi các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền.
—Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallāna. Tôn giả Mahà Moggallāna nói như sau:
—Này chư Hiền, tôi sẽ giảng cho chư Hiền về pháp môn nhiễm dục lậu, và pháp môn không nhiễm dục lậu. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ giảng.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallāna. Tôn giả Mahà Moggallāna nói như sau:
Vi-n 11 —Và này chư Hiền, thế nào là nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn … Khi lưỡi nếm vị … Khi ý biết các pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn.
Vi-n 12 Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức … đối với các vị do lưỡi nhận thức … đối với các pháp do ý nhận thức. Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng.
Vi-n 13 Cũng vậy, này chư Hiền, như một cái nhà lợp bằng cây lau hay cỏ, héo khô, không có nhựa, xưa đến ba bốn năm. Nếu từ phương Ðông có người đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng. Nếu một người từ phương Tây đến … Nếu một người từ phương Bắc đến … Nếu một người từ phương Nam đến … Nếu một người từ phương dưới đến … Nếu một người từ phương trên đến, hay một người bất cứ từ ở đâu đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa nắm được cơ hội, ngọn lửa nắm được đối tượng. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống như vậy. Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra nắm được cơ hội, Māra nắm được đối tượng.
Vi-n 14 Này chư Hiền, sống như vậy, các sắc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các sắc. Các tiếng chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các tiếng. Các hương chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các hương. Các vị chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các vị. Các xúc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các xúc. Các pháp chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các pháp. Này chư Hiền, đây được gọi là Tỷ-kheo bị sắc chinh phục, bị tiếng chinh phục, bị hương chinh phục, bị vị chinh phục, bị xúc chinh phục, bị pháp chinh phục, không phải không bị chinh phục. Chinh phục vị ấy là các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi (sadarà), đưa đến quả khổ dị thục, tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là nhiễm dục lậu.
Vi-n 15 Và này chư Hiền, thế nào là không nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp sắc khả ái, không ghét bỏ sắc không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn … Khi lưỡi nếm vị … Khi ý biết các pháp, vị ấy không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Này chư Hiền, đây gọi là vị Tỷ-kheo không bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức … đối với các vị do lưỡi nhận thức … đối với các pháp do ý nhận thức … Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng … Nếu Māra có đến vị ấy, ngang qua ý, Māra không nắm được cơ hội, Māra không nắm được đối tượng.
Vi-n 16 Ví như, này chư Hiền, một cái nhà có nóc nhọn hay một giảng đường có nóc nhọn xây bằng đất dày, vừa mới xoa trét, nếu có người từ phương Ðông lại với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng … từ phương Tây đến … từ phương Bắc đến … từ phương Nam đến … từ phương dưới đến … từ phương trên đến hay từ bất cứ phương nào đến, với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.
Vi-n 17 Sống như vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo chinh phục các sắc, không phải các sắc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các tiếng, không phải các tiếng chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các hương, không phải các hương chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các vị, không phải các vị chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các xúc, không phải các xúc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các pháp, không phải các pháp chinh phục Tỷ-kheo. Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo chinh phục các sắc, chinh phục các tiếng, chinh phục các hương, chinh phục các vị, chinh phục các xúc, chinh phục các pháp, không phải bị chinh phục. Chính vị ấy chinh phục các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là không nhiễm dục lậu.
Vi-n 18 Rồi Thế Tôn ngồi dậy và gọi Tôn giả Màha Moggallāna:
—Lành thay, lành thay, này Moggallāna! Lành thay, này Moggallāna! Ông đã thuyết cho các Tỷ-kheo về pháp môn nhiễm dục lậu và pháp môn không nhiễm dục lậu.
Vi-n 19 Tôn giả Mahà Moggallāna thuyết như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà Moggallāna thuyết.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.243
- 19. The Simile of the Vipers
The Explanation on the Festering
6. Kinh Pháp Môn Về Lậu Hoặc
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme. Tena kho pana samayena kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ navaṁ santhāgāraṁ acirakāritaṁ hoti anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
Atha kho kāpilavatthavā sakyā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kāpilavatthavā sakyā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “idha, bhante, kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ navaṁ santhāgāraṁ acirakāritaṁ anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena. Taṁ, bhante, bhagavā paṭhamaṁ paribhuñjatu. Bhagavatā paṭhamaṁ paribhuttaṁ pacchā kāpilavatthavā sakyā paribhuñjissanti. Tadassa kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery. Now at that time a new town hall had recently been constructed for the Sakyans of Kapilavatthu. It had not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any human at all.
Then the Sakyans of Kapilavatthu went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, a new town hall has recently been constructed for the Sakyans of Kapilavatthu. It has not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any human at all. May the Buddha be the first to use it, and only then will the Sakyans of Kapilavatthu use it. That would be for the lasting welfare and happiness of the Sakyans of Kapilavatthu.” The Buddha consented with silence.
243. Một thời, Thế Tôn trú tại Nigrodhārāma ở Kapilavatthu, trong xứ của những người Sakya. Vào lúc bấy giờ, những người Sakya ở Kapilavatthu có một hội trường mới vừa được xây xong, chưa từng được một sa-môn, bà-la-môn, hay bất kỳ người nào sử dụng. Bấy giờ, những người Sakya ở Kapilavatthu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, những người Sakya ở Kapilavatthu bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, ở đây, những người Sakya ở Kapilavatthu có một hội trường mới vừa được xây xong, chưa từng được một sa-môn, bà-la-môn, hay bất kỳ người nào sử dụng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy sử dụng nó trước tiên. Sau khi Thế Tôn đã sử dụng trước, sau đó những người Sakya ở Kapilavatthu sẽ sử dụng. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho những người Sakya ở Kapilavatthu.' Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng.
Atha kho kāpilavatthavā sakyā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena navaṁ santhāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ santhāgāraṁ santharitvā āsanāni paññāpetvā udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpetvā telappadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “sabbasantharisanthataṁ, bhante, santhāgāraṁ, āsanāni paññattāni, udakamaṇiko patiṭṭhāpito, telappadīpo āropito. Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena navaṁ santhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi. Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantaṁyeva purakkhatvā. Kāpilavatthavā sakyā pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu bhagavantaṁyeva purakkhatvā. Atha kho bhagavā kāpilavatthave sakye bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi: “abhikkantā kho, gotamā, ratti. Yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho kāpilavatthavā sakyā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Knowing that the Buddha had consented, the Sakyans rose from their seats, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. Then they went to the new town hall, where they spread carpets all over, prepared seats, set up a water jar, and placed an oil lamp. Then they went back to the Buddha and told him of their preparations, saying, “Please, sir, come at your convenience.”
Then the Buddha robed up and, taking his bowl and robe, went to the new town hall together with the Saṅgha of mendicants. Having washed his feet, he entered the town hall and sat against the central column facing east. The Saṅgha of mendicants also washed their feet, entered the town hall, and sat against the west wall facing east, with the Buddha right in front of them. The Sakyans of Kapilavatthu also washed their feet, entered the town hall, and sat against the east wall facing west, with the Buddha right in front of them. The Buddha spent much of the night educating, encouraging, firing up, and inspiring the Sakyans with a Dhamma talk. Then he sent them off, saying, “The night is getting late, Gotamas. Please go at your convenience.”
“Yes, sir,” replied the Sakyans. They got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving.
Bấy giờ, những người thuộc dòng họ Thích-ca ở Ca-tỳ-la-vệ, sau khi biết được sự chấp thuận của đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi đi đến giảng đường mới. Sau khi đến, họ trải khắp giảng đường với tất cả các loại vật trải, sắp đặt các chỗ ngồi, đặt sẵn bình nước, thắp đèn dầu, rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, giảng đường đã được trải khắp với tất cả các loại vật trải, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, bình nước đã được đặt sẵn, đèn dầu đã được thắp lên. Bạch ngài, nay đức Thế Tôn nghĩ là đã đến lúc.” Bấy giờ, đức Thế Tôn đắp y, mang y bát, cùng với Tăng chúng đi đến giảng đường mới. Sau khi đến, ngài rửa chân, đi vào giảng đường, rồi ngồi xuống tựa vào cột trụ ở giữa, hướng mặt về phía đông. Tăng chúng cũng rửa chân, đi vào giảng đường, rồi ngồi xuống tựa vào bức tường phía tây, hướng mặt về phía đông, với đức Thế Tôn ở phía trước. Những người thuộc dòng họ Thích-ca ở Ca-tỳ-la-vệ cũng rửa chân, đi vào giảng đường, rồi ngồi xuống tựa vào bức tường phía đông, hướng mặt về phía tây, với đức Thế Tôn ở phía trước. Bấy giờ, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ những người thuộc dòng họ Thích-ca ở Ca-tỳ-la-vệ bằng một bài pháp thoại cho đến khuya, rồi ngài cho họ lui về: “Này các vị Gotama, đêm đã trôi qua. Nay các vị hãy nghĩ là đã đến lúc.” “Vâng, bạch ngài.” Những người thuộc dòng họ Thích-ca ở Ca-tỳ-la-vệ vâng đáp đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi ra về.
Atha kho bhagavā acirapakkantesu kāpilavatthavesu sakyesu āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ āmantesi: “vigatathinamiddho kho, moggallāna, bhikkhusaṅgho. Paṭibhātu taṁ, moggallāna, bhikkhūnaṁ dhammī kathā. Piṭṭhi me āgilāyati; tamahaṁ āyamissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi, pāde pādaṁ accādhāya, sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
Tatra kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṁ. Āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“avassutapariyāyañca vo, āvuso, desessāmi, anavassutapariyāyañca. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṁ. Āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
Then, not long after the Sakyans had left, the Buddha addressed Venerable Mahāmoggallāna, “Moggallāna, the Saṅgha of mendicants is rid of dullness and drowsiness. Give them some Dhamma talk as you feel inspired. My back is sore, I’ll stretch it.”
“Yes, sir,” Mahāmoggallāna replied. And then the Buddha spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.
There Venerable Mahāmoggallāna addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Venerable Mahāmoggallāna said this:
“I will teach you the explanation of the festering and the not festering. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Venerable Mahāmoggallāna said this:
Bấy giờ, không lâu sau khi những người thuộc dòng họ Thích-ca ở Ca-tỳ-la-vệ đã ra về, đức Thế Tôn gọi Tôn giả Đại Mục-kiền-liên: “Này Mục-kiền-liên, Tăng chúng đã hết hôn trầm thụy miên. Này Mục-kiền-liên, hãy để một bài pháp thoại đến với ngươi cho các vị tỳ khưu. Lưng của ta bị đau; ta sẽ duỗi lưng.” “Vâng, bạch ngài.” Tôn giả Đại Mục-kiền-liên vâng đáp đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế Tôn trải tấm y tăng-già-lê gấp tư, rồi nằm xuống theo thế nằm của sư tử về phía hông bên phải, chân này đặt lên chân kia một chút, chánh niệm, tỉnh giác, tác ý đến tưởng khởi dậy. Lúc ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên gọi các vị tỳ khưu: “Này chư hiền tỳ khưu.” “Thưa hiền giả.” Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Đại Mục-kiền-liên. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói điều này: “Này chư hiền, tôi sẽ giảng cho các vị về pháp môn bị thấm ướt và pháp môn không bị thấm ướt. Hãy lắng nghe điều đó, hãy khéo tác ý; tôi sẽ nói.” “Vâng, thưa hiền giả.” Các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Đại Mục-kiền-liên. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói điều này:
“Kathaṁ, āvuso, avassuto hoti?
Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassatī viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassatī ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Ayaṁ vuccati, āvuso, bhikkhu avassuto cakkhuviññeyyesu rūpesu …pe… avassuto jivhāviññeyyesu rasesu …pe… avassuto manoviññeyyesu dhammesu.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe… jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe… manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ.
“And how is someone festering?
Take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with their mind. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
This is called a mendicant who is festering when it comes to sights known by the eye, sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind.
When a mendicant lives like this, if Māra comes at them through the eye he finds a vulnerability and gets an opportunity. If Māra comes at them through the ear … nose … tongue … body … mind he finds a vulnerability and gets an opportunity.
“Này chư hiền, thế nào là bị thấm ướt? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc pháp bằng mắt thì bị lôi cuốn đối với sắc pháp khả ái, sanh sân hận đối với sắc pháp không khả ái, trú với niệm thân không được an lập, với tâm nhỏ hẹp, và vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư sót. ...v.v... sau khi nếm vị bằng lưỡi... v.v... sau khi biết pháp bằng ý thì bị lôi cuốn đối với pháp khả ái, sanh sân hận đối với pháp không khả ái, trú với niệm thân không được an lập, với tâm nhỏ hẹp, và vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư sót. Này chư hiền, vị tỳ khưu này được gọi là bị thấm ướt đối với các sắc pháp do mắt nhận biết... v.v... bị thấm ướt đối với các vị do lưỡi nhận biết... v.v... bị thấm ướt đối với các pháp do ý nhận biết. Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu sống như vậy, nếu Ma vương tiếp cận vị ấy từ mắt, Ma vương chắc chắn có được cơ hội, Ma vương có được đối tượng... v.v... nếu Ma vương tiếp cận vị ấy từ lưỡi, Ma vương chắc chắn có được cơ hội, Ma vương có được đối tượng... v.v... nếu Ma vương tiếp cận vị ấy từ ý, Ma vương chắc chắn có được cơ hội, Ma vương có được đối tượng.”
Seyyathāpi, āvuso, naḷāgāraṁ vā tiṇāgāraṁ vā sukkhaṁ kolāpaṁ terovassikaṁ. Puratthimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, labhetheva aggi otāraṁ, labhetha aggi ārammaṇaṁ; pacchimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya …pe… uttarāya cepi naṁ disāya …pe… dakkhiṇāya cepi naṁ disāya …pe… heṭṭhimato cepi naṁ …pe… uparimato cepi naṁ … yato kutoci cepi naṁ puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, labhetheva aggi otāraṁ labhetha aggi ārammaṇaṁ.
Evameva kho, āvuso, evaṁvihāriṁ bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ …pe… jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati …pe… manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, labhateva māro otāraṁ, labhati māro ārammaṇaṁ.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ rūpā adhibhaṁsu, na bhikkhu rūpe adhibhosi; saddā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu sadde adhibhosi; gandhā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu gandhe adhibhosi; rasā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu rase adhibhosi; phoṭṭhabbā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu phoṭṭhabbe adhibhosi; dhammā bhikkhuṁ adhibhaṁsu, na bhikkhu dhamme adhibhosi.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu rūpādhibhūto, saddādhibhūto, gandhādhibhūto, rasādhibhūto, phoṭṭhabbādhibhūto, dhammādhibhūto, adhibhūto, anadhibhū, adhibhaṁsu naṁ pāpakā akusalā dhammā saṅkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā.
Evaṁ kho, āvuso, avassuto hoti.
Suppose there was a house made of reeds or straw that was dried up, withered, and decrepit. If a person came to it with a burning grass torch from the east, west, north, south, below, above, or from anywhere, the fire would find a vulnerability, it would get an opportunity.
In the same way, when a mendicant lives like this, if Māra comes at them through the eye he finds a vulnerability and gets an opportunity. If Māra comes at them through the ear … nose … tongue … body … mind he finds a vulnerability and gets an opportunity.
When a mendicant lives like this, they’re mastered by sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas, they don’t master these things.
This is called a mendicant who has been mastered by sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. They’re mastered, not a master. Bad, unskillful qualities have mastered them, which are corrupting, leading to future lives, hurtful, and resulting in suffering and future rebirth, old age, and death.
That’s how someone is festering.
“Này chư hiền, ví như có một ngôi nhà lợp bằng sậy hoặc một ngôi nhà lợp bằng cỏ, khô, mục nát, đã lâu năm. Nếu có người đàn ông mang bó đuốc cỏ đang cháy đến gần nó từ phương đông, ngọn lửa chắc chắn sẽ có cơ hội, ngọn lửa sẽ có nhiên liệu; nếu có người đàn ông mang bó đuốc cỏ đang cháy đến gần nó từ phương tây... này chư hiền... từ phương bắc... này chư hiền... từ phương nam... này chư hiền... từ bên dưới... này chư hiền... từ bên trên... nếu có người đàn ông mang bó đuốc cỏ đang cháy đến gần nó từ bất cứ hướng nào, ngọn lửa chắc chắn sẽ có cơ hội, ngọn lửa sẽ có nhiên liệu. Tương tự như vậy, này chư hiền, đối với vị tỳ khưu sống như thế, nếu ma vương đến gần vị ấy qua con mắt, ma vương chắc chắn sẽ có cơ hội, ma vương sẽ có nhiên liệu... này chư hiền... nếu ma vương đến gần vị ấy qua cái lưỡi... này chư hiền... nếu ma vương đến gần vị ấy qua ý, ma vương chắc chắn sẽ có cơ hội, ma vương sẽ có nhiên liệu. Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu sống như thế, các sắc đã chế ngự vị ấy, vị tỳ khưu không chế ngự được các sắc; các thanh đã chế ngự vị tỳ khưu, vị tỳ khưu không chế ngự được các thanh; các hương đã chế ngự vị tỳ khưu, vị tỳ khưu không chế ngự được các hương; các vị đã chế ngự vị tỳ khưu, vị tỳ khưu không chế ngự được các vị; các xúc đã chế ngự vị tỳ khưu, vị tỳ khưu không chế ngự được các xúc; các pháp đã chế ngự vị tỳ khưu, vị tỳ khưu không chế ngự được các pháp. Này chư hiền, vị tỳ khưu này được gọi là người bị sắc chế ngự, bị thanh chế ngự, bị hương chế ngự, bị vị chế ngự, bị xúc chế ngự, bị pháp chế ngự, bị chế ngự, không chế ngự được. Các pháp ác, bất thiện, gây ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền muộn, có quả khổ, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai đã chế ngự vị ấy. Này chư hiền, như vậy là bị thấm ướt.”
Kathañcāvuso, anavassuto hoti?
Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu anavassuto cakkhuviññeyyesu rūpesu …pe… anavassuto manoviññeyyesu dhammesu.
Evaṁvihāriñcāvuso, bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ …pe… jivhāto cepi naṁ māro upasaṅkamati …pe… manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ.
And how is someone not festering?
Take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with their mind. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
This is called a mendicant who is not festering when it comes to sights known by the eye, sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind.
When a mendicant lives like this, if Māra comes at them through the eye he doesn’t find a vulnerability or get an opportunity. If Māra comes at them through the ear … nose … tongue … body … mind he doesn’t find a vulnerability or get an opportunity.
“Này chư hiền, thế nào là không bị thấm ướt? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, không say đắm đối với sắc khả ái, không sân hận đối với sắc không khả ái, an trú với thân niệm được thiết lập, với tâm vô lượng, và vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn... này chư hiền... sau khi nếm vị bằng lưỡi... này chư hiền... sau khi biết pháp bằng ý, không say đắm đối với pháp khả ái, không sân hận đối với pháp không khả ái, an trú với thân niệm được thiết lập, với tâm vô lượng, và vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Này chư hiền, vị tỳ khưu này được gọi là không bị thấm ướt đối với các sắc được nhận biết qua mắt... này chư hiền... không bị thấm ướt đối với các pháp được nhận biết qua ý. Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu sống như thế, nếu ma vương đến gần vị ấy qua con mắt, ma vương không có được cơ hội, ma vương không có được nhiên liệu... này chư hiền... nếu ma vương đến gần vị ấy qua cái lưỡi... này chư hiền... nếu ma vương đến gần vị ấy qua ý, ma vương không có được cơ hội, ma vương không có được nhiên liệu.”
Seyyathāpi, āvuso, kūṭāgāraṁ vā sālā vā bahalamattikā addāvalepanā. Puratthimāya cepi naṁ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, neva labhetha aggi otāraṁ, na labhetha aggi ārammaṇaṁ …pe… pacchimāya cepi naṁ … uttarāya cepi naṁ … dakkhiṇāya cepi naṁ … heṭṭhimato cepi naṁ … uparimato cepi naṁ … yato kutoci cepi naṁ puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, neva labhetha aggi otāraṁ, na labhetha aggi ārammaṇaṁ.
Evameva kho, āvuso, evaṁvihāriṁ bhikkhuṁ cakkhuto cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ …pe… manato cepi naṁ māro upasaṅkamati, neva labhati māro otāraṁ, na labhati māro ārammaṇaṁ.
Evaṁvihārī cāvuso, bhikkhu rūpe adhibhosi, na rūpā bhikkhuṁ adhibhaṁsu; sadde bhikkhu adhibhosi, na saddā bhikkhuṁ adhibhaṁsu; gandhe bhikkhu adhibhosi, na gandhā bhikkhuṁ adhibhaṁsu; rase bhikkhu adhibhosi, na rasā bhikkhuṁ adhibhaṁsu; phoṭṭhabbe bhikkhu adhibhosi, na phoṭṭhabbā bhikkhuṁ adhibhaṁsu; dhamme bhikkhu adhibhosi, na dhammā bhikkhuṁ adhibhaṁsu.
Ayaṁ vuccatāvuso, bhikkhu rūpādhibhū, saddādhibhū, gandhādhibhū, rasādhibhū, phoṭṭhabbādhibhū, dhammādhibhū, adhibhū, anadhibhūto, adhibhosi te pāpake akusale dhamme saṅkilesike ponobhavike sadare dukkhavipāke āyatiṁ jātijarāmaraṇiye.
Evaṁ kho, āvuso, anavassuto hotī”ti.
Suppose there was a bungalow or hall made of thick clay with its plaster still wet. If a person came to it with a burning grass torch from the east, west, north, south, below, above, or from anywhere, the fire wouldn’t find a vulnerability, it would get no opportunity.
In the same way, when a mendicant lives like this, if Māra comes at them through the eye he doesn’t find a vulnerability or get an opportunity. If Māra comes at them through the ear … nose … tongue … body … mind he doesn’t find a vulnerability or get an opportunity.
When a mendicant lives like this, they master sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas, they’re not mastered by these things.
This is called a mendicant who has mastered sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. They’re a master, not mastered. Bad, unskillful qualities have been mastered by them, which are corrupting, leading to future lives, hurtful, and resulting in suffering and future rebirth, old age, and death.
That’s how someone is not festering.”
“Này chư hiền, ví như có một ngôi nhà có nóc nhọn hoặc một cái sảnh được trát bằng lớp đất sét dày, được tô vữa kỹ. Nếu có người đàn ông mang bó đuốc cỏ đang cháy đến gần nó từ phương đông, ngọn lửa sẽ không có cơ hội, ngọn lửa sẽ không có nhiên liệu... này chư hiền... từ phương tây... từ phương bắc... từ phương nam... từ bên dưới... từ bên trên... nếu có người đàn ông mang bó đuốc cỏ đang cháy đến gần nó từ bất cứ hướng nào, ngọn lửa sẽ không có cơ hội, ngọn lửa sẽ không có nhiên liệu. Tương tự như vậy, này chư hiền, đối với vị tỳ khưu sống như thế, nếu ma vương đến gần vị ấy qua con mắt, ma vương không có được cơ hội, ma vương không có được nhiên liệu... này chư hiền... nếu ma vương đến gần vị ấy qua ý, ma vương không có được cơ hội, ma vương không có được nhiên liệu. Này chư hiền, vị tỳ khưu sống như thế đã chế ngự được các sắc, các sắc không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các thanh, các thanh không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các hương, các hương không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các vị, các vị không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các xúc, các xúc không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các pháp, các pháp không chế ngự được vị tỳ khưu. Này chư hiền, vị tỳ khưu này được gọi là người chế ngự sắc, chế ngự thanh, chế ngự hương, chế ngự vị, chế ngự xúc, chế ngự pháp, người chế ngự, không bị chế ngự. Vị ấy đã chế ngự được các pháp ác, bất thiện, gây ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền muộn, có quả khổ, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai. Này chư hiền, như vậy là không bị thấm ướt.”
Atha kho bhagavā uṭṭhahitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ āmantesi:
“sādhu sādhu, moggallāna. Sādhu kho tvaṁ, moggallāna, bhikkhūnaṁ avassutapariyāyañca anavassutapariyāyañca abhāsī”ti.
Then the Buddha got up and said to Venerable Mahāmoggallāna:
“Good, good, Moggallāna! It’s good that you’ve taught this explanation of the festering and the not festering.”
Khi ấy, Thế Tôn đứng dậy và nói với tôn giả Đại Mục Kiền Liên: ‘Lành thay, lành thay, này Mục Kiền Liên! Lành thay, này Mục Kiền Liên, ông đã nói cho các tỳ khưu về pháp môn bị thấm ướt và pháp môn không bị thấm ướt.’”
Idamavoca āyasmā mahāmoggallāno. Samanuñño satthā ahosi. Attamanā te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa bhāsitaṁ abhinandunti.
Chaṭṭhaṁ.
That is what Venerable Mahāmoggallāna said, and the Teacher concurred. Satisfied, the mendicants approved what Mahāmoggallāna said.
Tôn giả Đại Mục Kiền Liên đã nói như vậy. Bậc Đạo Sư đã tán thành. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của tôn giả Đại Mục Kiền Liên. (Kinh thứ) sáu.