- Saṁyutta Nikāya 35.239
- 19. Āsīvisavagga
Bản dịch
SN 35.239 — Kinh Ví Dụ Cỗ Xe
Rathopamasutta
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, đầy đủ được ba pháp ấy, một Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc. Thế nào là ba? Hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống và chú tâm tỉnh giác.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn.
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa hay, có roi ngựa đặc biệt đang sẵn sàng. Có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa đi tới đi lui, như thế nào và tại chỗ nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học hộ trì, học chế ngự, học điều ngự, học tịnh chỉ sáu căn này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo hộ trì các căn.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc”.
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người bôi thuốc vào một vết thương để chữa lành vết thương ấy. Ví như một người bôi dầu vào trục xe với mục đích để có thể chở đồ nặng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống.
Vi-n 8 Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm canh một, khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy. Ban đêm trong canh cuối cùng, vị ấy thức dậy và trong khi đi kinh hành và ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba pháp ấy, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.239
- 19. The Simile of the Vipers
The Simile of the Chariot
2. Kinh Ví Dụ Cỗ Xe
“Tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāya. Katamehi tīhi?
Indriyesu guttadvāro hoti, bhojane mattaññū, jāgariyaṁ anuyutto.
“Mendicants, when a mendicant has three qualities they’re full of joy and happiness in this very life, and they have laid the groundwork for ending the defilements. What three?
They guard the sense doors, eat in moderation, and are committed to wakefulness.
239. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào hội đủ ba pháp thì sống có nhiều lạc và hỷ ngay trong hiện tại, và nhân duyên để đoạn tận các lậu hoặc được vị ấy khởi xướng. Ba pháp nào? Vị ấy có các căn được phòng hộ, biết tiết độ trong ăn uống, và chuyên tâm cảnh giác.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti, nānubyañjanaggāhī; yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ. Tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṁ; cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī; yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṁ; manindriye saṁvaraṁ āpajjati.
Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṁ cātumahāpathe ājaññaratho yutto assa ṭhito odhastapatodo. Tamenaṁ dakkho yoggācariyo assadammasārathi abhiruhitvā vāmena hatthena rasmiyo gahetvā, dakkhiṇena hatthena patodaṁ gahetvā, yenicchakaṁ yadicchakaṁ sāreyyapi paccāsāreyyapi.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imesaṁ channaṁ indriyānaṁ ārakkhāya sikkhati, saṁyamāya sikkhati, damāya sikkhati, upasamāya sikkhati.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti.
And how does a mendicant guard the sense doors?
When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.
When they hear a sound with their ears …
When they smell an odor with their nose …
When they taste a flavor with their tongue …
When they feel a touch with their body …
When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint.
Suppose a chariot stood harnessed to thoroughbreds at a level crossroads, with a goad ready. A deft horse trainer, a master charioteer, might mount the chariot, taking the reins in his right hand and goad in the left. He’d drive out and back wherever he wishes, whenever he wishes.
In the same way, a mendicant trains to protect, control, tame, and pacify these six senses.
That’s how a mendicant guards the sense doors.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có các căn được phòng hộ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi thấy sắc pháp bằng mắt thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà nếu không phòng hộ nhãn căn thì các pháp bất thiện, ác hại là tham và ưu sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành sự phòng hộ nhân duyên ấy, bảo vệ nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi nghe âm thanh bằng tai… sau khi ngửi hương bằng mũi… sau khi nếm vị bằng lưỡi… sau khi cảm nhận xúc bằng thân… sau khi biết pháp bằng ý thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà nếu không phòng hộ ý căn thì các pháp bất thiện, ác hại là tham và ưu sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành sự phòng hộ nhân duyên ấy, bảo vệ ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Này các Tỳ khưu, ví như tại ngã tư đường trên khu đất bằng phẳng, có một cỗ xe ngựa thuần chủng được thắng yên, sẵn sàng với cây roi thúc ngựa đặt ở giữa. Người đánh xe thiện xảo, người điều phục ngựa, sau khi lên xe, tay trái cầm dây cương, tay phải cầm roi thúc ngựa, có thể đánh xe đi tới lui bất cứ nơi nào, bất cứ chỗ nào mình muốn. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu học tập để bảo vệ, học tập để chế ngự, học tập để điều phục, học tập để làm lắng dịu sáu căn này. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu có các căn được phòng hộ.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu bhojane mattaññū hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti: ‘neva davāya, na madāya, na maṇḍanāya, na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā, yāpanāya, vihiṁsūparatiyā, brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati, anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso vaṇaṁ ālimpeyya yāvadeva rohanatthāya, seyyathā vā pana akkhaṁ abbhañjeyya yāvadeva bhārassa nittharaṇatthāya;
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti: ‘neva davāya, na madāya, na maṇḍanāya, na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā, yāpanāya, vihiṁsūparatiyā, brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati, anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu bhojane mattaññū hoti.
And how does a mendicant eat in moderation?
It’s when a mendicant reflects rationally on the food that they eat: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
It’s like a person who puts ointment on a wound only so that it can heal; or who oils an axle only so that it can carry a load.
In the same way, a mendicant reflects rationally on the food that they eat: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
That’s how a mendicant eats in moderation.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết tiết độ trong ăn uống? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi như lý quán xét, thọ dụng vật thực: ‘Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang điểm, không phải để làm đẹp, mà chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ hại, để hỗ trợ cho phạm hạnh, với ý nghĩ rằng: Ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ và không để cảm thọ mới phát sinh, và ta sẽ được sống điều độ, không bị chê trách, và sống thoải mái.’ Này các Tỳ khưu, ví như một người thoa thuốc lên vết thương chỉ để cho nó mau lành, hoặc ví như người ta tra dầu vào trục xe chỉ để chuyên chở hàng hóa. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi như lý quán xét, thọ dụng vật thực: ‘Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang điểm, không phải để làm đẹp, mà chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ hại, để hỗ trợ cho phạm hạnh, với ý nghĩ rằng: Ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ và không để cảm thọ mới phát sinh, và ta sẽ được sống điều độ, không bị chê trách, và sống thoải mái.’ Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu biết tiết độ trong ăn uống.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu jāgariyaṁ anuyutto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti. Rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti. Rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeti pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā. Rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu jāgariyaṁ anuyutto hoti.
Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāyā”ti.
Dutiyaṁ.
And how is a mendicant committed to wakefulness?
It’s when a mendicant practices walking and sitting meditation by day, purifying their mind from obstacles. In the first watch of the night, they continue to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, they lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. In the last watch, they get up and continue to practice walking and sitting meditation, purifying their mind from obstacles.
This is how a mendicant is committed to wakefulness.
When a mendicant possesses these three qualities they’re full of joy and happiness in this very life, and they have laid the groundwork for ending the defilements.”
“Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu chuyên tâm cảnh giác? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu ban ngày, trong lúc đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Vào canh đầu của đêm, trong lúc đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Vào canh giữa của đêm, vị ấy nằm xuống trong tư thế con sư tử, về phía hông bên phải, chân này gác lên chân kia, chánh niệm, tỉnh giác, tác ý đến tưởng thức dậy. Vào canh cuối của đêm, sau khi thức dậy, trong lúc đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu chuyên tâm cảnh giác. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào hội đủ ba pháp này thì sống có nhiều lạc và hỷ ngay trong hiện tại, và nhân duyên để đoạn tận các lậu hoặc được vị ấy khởi xướng.” Hết bài kinh thứ hai.