- Saṁyutta Nikāya 35.240
- 19. Āsīvisavagga
Bản dịch
SN 35.240 — Kinh Ví Dụ Con Rùa
Kummopamasutta
Vi-n 3 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một con rùa, vào buổi chiều, đang đi kiếm mồi dọc theo bờ sông. Một con giả can, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, cũng đi tìm mồi dọc theo bờ sông.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, con rùa từ đàng xa trông thấy con giả can đang đi tìm mồi, thấy vậy liền rụt bốn chân và thứ năm là cổ vào trong mai rùa của mình và nằm bất động, im lặng.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, con giả can từ đàng xa trông thấy con rùa, đi đến con rùa sau khi đến, đứng một bên và nghĩ rằng: “Khi nào con rùa này thò ra thân phần nào và cổ là thứ năm, ngay tại chỗ ấy, ta sẽ nắm lấy, bẻ gãy và ăn”.
Vi-n 6 Nhưng, này các Tỷ-kheo, vì rằng con rùa không thò ra một thân phần nào và cổ là thứ năm, nên con giả can nhàm chán con rùa và bỏ đi, không nắm được cơ hội.
Vi-n 7 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ác ma thường xuyên không gián đoạn, đứng trong tư thế rình mò các Ông với ý nghĩ: “Rất có thể ta nắm được cơ hội để bắt gặp từ con mắt … từ cái lưỡi … hay từ ý”.
Vi-n 8 Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi mùi … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn. Này các Tỷ-kheo, khi nào các Ông sống hộ trì các căn, thời Ác ma nhàm chán các Ông và sẽ bỏ đi, không nắm giữ được cơ hội, như con giả can đối với con rùa.
Như rùa dấu thân phần,
Trong mai rùa của nó.
Cũng vậy, vị Tỷ-kheo,
Thâu nhóm mọi tâm tư,
Không nương tựa một ai,
Không hại một người nào,
Hoàn toàn đạt tịch tịnh,
Không nói xấu một ai.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.240
- 19. The Simile of the Vipers
The Simile of the Tortoise
3. Kinh Ví Dụ Con Rùa
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, kummo kacchapo sāyanhasamayaṁ anunadītīre gocarapasuto ahosi. Siṅgālopi kho, bhikkhave, sāyanhasamayaṁ anunadītīre gocarapasuto ahosi. Addasā kho, bhikkhave, kummo kacchapo siṅgālaṁ dūratova gocarapasutaṁ. Disvāna soṇḍipañcamāni aṅgāni sake kapāle samodahitvā appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyati.
Siṅgālopi kho, bhikkhave, addasa kummaṁ kacchapaṁ dūratova gocarapasutaṁ. Disvāna yena kummo kacchapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kummaṁ kacchapaṁ paccupaṭṭhito ahosi: ‘yadāyaṁ kummo kacchapo soṇḍipañcamānaṁ aṅgānaṁ aññataraṁ vā aññataraṁ vā aṅgaṁ abhininnāmessati, tattheva naṁ gahetvā uddālitvā khādissāmī’ti.
Yadā kho, bhikkhave, kummo kacchapo soṇḍipañcamānaṁ aṅgānaṁ aññataraṁ vā aññataraṁ vā aṅgaṁ na abhininnāmi, atha siṅgālo kummamhā nibbijja pakkāmi, otāraṁ alabhamāno.
“Once upon a time, mendicants, a tortoise was grazing along the bank of a river in the afternoon. At the same time, a jackal was also hunting along the river bank. The tortoise saw the jackal off in the distance hunting, so it drew its limbs and neck inside its shell, and kept passive and silent.
But the jackal also saw the tortoise off in the distance grazing. So it went up to the tortoise and waited nearby, thinking, ‘When that tortoise sticks one or other of its limbs or neck out from its shell, I’ll grab it right there, rip it out, and eat it!’
But when that tortoise didn’t stick one or other of its limbs or neck out from its shell, the jackal left disappointed, since it couldn’t find a vulnerability.
240. Này các tỳ khưu, thuở xưa, có một con rùa vào buổi chiều đang đi tìm mồi ở ven bờ sông. Này các tỳ khưu, cũng có một con chó rừng vào buổi chiều đang đi tìm mồi ở ven bờ sông. Này các tỳ khưu, con rùa từ xa đã trông thấy con chó rừng đang đi tìm mồi. Sau khi thấy, nó liền rút năm chi thể (cùng với đầu là năm) vào trong mai của mình, không lo âu, im lặng nằm yên. Này các tỳ khưu, con chó rừng cũng từ xa trông thấy con rùa đang đi tìm mồi. Sau khi thấy, nó liền đi đến chỗ con rùa; sau khi đến, nó đứng chờ đợi con rùa và nghĩ rằng: ‘Khi nào con rùa này thò ra một trong năm chi thể của nó, ngay lúc đó ta sẽ tóm lấy, xé ra và ăn thịt’. Này các tỳ khưu, khi con rùa không thò ra bất cứ chi thể nào trong năm chi thể của nó, bấy giờ con chó rừng, vì không tìm được cơ hội, đã chán nản bỏ đi khỏi chỗ con rùa.
Evameva kho, bhikkhave, tumhepi māro pāpimā satataṁ samitaṁ paccupaṭṭhito: ‘appeva nāmāhaṁ imesaṁ cakkhuto vā otāraṁ labheyyaṁ …pe… jivhāto vā otāraṁ labheyyaṁ …pe… manato vā otāraṁ labheyyan’ti. Tasmātiha, bhikkhave, indriyesu guttadvārā viharatha.
Cakkhunā rūpaṁ disvā mā nimittaggāhino ahuvattha, mā anubyañjanaggāhino. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjatha, rakkhatha cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjatha.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya mā nimittaggāhino ahuvattha, mā anubyañjanaggāhino. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjatha, rakkhatha manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjatha.
Yato tumhe, bhikkhave, indriyesu guttadvārā viharissatha, atha tumhehipi māro pāpimā nibbijja pakkamissati, otāraṁ alabhamāno—kummamhāva siṅgāloti.
Kummova aṅgāni sake kapāle,
In the same way, Māra the Wicked is always waiting nearby, thinking: ‘Hopefully I can find a vulnerability in the eye, ear, nose, tongue, body, or mind.’ That’s why you should live with sense doors guarded.
When you see a sight with your eyes, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.
When you hear a sound with your ears …
When you smell an odor with your nose …
When you taste a flavor with your tongue …
When you feel a touch with your body …
When you know an idea with your mind, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint.
When you live with your sense doors guarded, Māra will leave you disappointed, since he can’t find a vulnerability, just like the jackal left the tortoise.
A mendicant should collect their thoughts
Cũng vậy, này các tỳ khưu, Ác ma luôn luôn thường trực chờ đợi các ngươi, nghĩ rằng: ‘Mong rằng ta có thể tìm được cơ hội từ mắt của họ... hoặc từ lưỡi của họ... hoặc từ ý của họ’. Vì vậy, này các tỳ khưu, các ngươi hãy sống phòng hộ các căn. Sau khi thấy sắc bằng mắt, chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng. Vì lý do nào mà nếu không phòng hộ nhãn căn, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu bi có thể xâm nhập, hãy thực hành để phòng hộ nhãn căn, hãy bảo vệ nhãn căn, hãy đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi mùi bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận xúc bằng thân... sau khi nhận biết pháp bằng ý, chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng. Vì lý do nào mà nếu không phòng hộ ý căn, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu bi có thể xâm nhập, hãy thực hành để phòng hộ ý căn, hãy bảo vệ ý căn, hãy đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Này các tỳ khưu, khi nào các ngươi sống phòng hộ các căn, bấy giờ Ác ma, vì không tìm được cơ hội, sẽ chán nản bỏ đi khỏi các ngươi, cũng như con chó rừng đã bỏ đi khỏi con rùa vậy.
Tatiyaṁ.
Như rùa rút các chi vào trong mai của mình, tỳ khưu hãy thu nhiếp các tầm của ý. Không nương tựa, không làm hại người khác, đã được tịch tịnh, vị ấy không nên khiển trách bất cứ ai. Hết phẩm thứ ba.