- Saṁyutta Nikāya 35.238
- 19. Āsīvisavagga
Bản dịch
SN 35.238 — Āsīvisopamasutta
Āsīvisopamasutta
Vi-n 1-2. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi … gọi các Tỷ-kheo … Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm”.
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: ‘Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó ‘. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: ‘Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 6 Rồi, này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.
Vi-n 8 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: “Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền.
Vi-n 10 Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta làm để giải thích ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa:
Vi-n 11 Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.
Vi-n 12 Năm tên giết người thù địch, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Vi-n 13 Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham.
Vi-n 14 Ngôi làng trống không, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỷ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không … Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.
Vi-n 15 Bọn cướp phá làng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái.
Vi-n 16 Vùng nước lớn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.
Vi-n 17 Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.
Vi-n 18 Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.
Vi-n 19 Cái bè, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 20 Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
Vi-n 21 Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.238
- 19. The Simile of the Vipers
The Simile of the Vipers
1. Bài Kinh Ví Dụ Về Rắn Độc
“Seyyathāpi, bhikkhave, cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisā. Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ime te, ambho purisa, cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisā kālena kālaṁ vuṭṭhāpetabbā, kālena kālaṁ nhāpetabbā, kālena kālaṁ bhojetabbā, kālena kālaṁ saṁvesetabbā. Yadā ca kho te, ambho purisa, imesaṁ catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ aññataro vā aññataro vā kuppissati, tato tvaṁ, ambho purisa, maraṇaṁ vā nigacchasi, maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ. Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
“Mendicants, suppose there were four venomous vipers of awesome might. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain.
They’d say to him, ‘My man, here are four venomous vipers of awesome might. They must be periodically picked up, washed, fed, and put to sleep. But when one or other of these four venomous vipers gets angry with you, you’ll meet with death or deadly pain. So then, my man, do what has to be done.’
238. Này các Tỳ khưu, ví như có bốn con rắn độc, có uy lực dữ dội, có nọc độc kinh khiếp. Rồi có một người đàn ông đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghê sợ đau khổ. Người ta có thể nói với người ấy như vầy: 'Này ông kia, bốn con rắn độc này, có uy lực dữ dội, có nọc độc kinh khiếp, ông phải đánh thức chúng dậy đúng thời, phải tắm cho chúng đúng thời, phải cho chúng ăn đúng thời, phải cho chúng ngủ đúng thời. Và này ông kia, bất cứ khi nào một trong bốn con rắn độc này, có uy lực dữ dội, có nọc độc kinh khiếp, nổi giận, thì khi ấy, này ông kia, ông sẽ phải chết, hoặc chịu đau khổ gần chết. Này ông kia, việc gì ông cần làm thì hãy làm đi.'
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ime kho, ambho purisa, pañca vadhakā paccatthikā piṭṭhito piṭṭhito anubandhā, yattheva naṁ passissāma tattheva jīvitā voropessāmāti. Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Then that man, terrified of those four venomous vipers, would flee this way or that.
They’d say to him, ‘My man, there are five deadly enemies chasing you, thinking: “When we catch sight of him, we’ll murder him right there!” So then, my man, do what has to be done.’
Rồi này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy, vì sợ hãi bốn con rắn độc có uy lực dữ dội, có nọc độc kinh khiếp, nên chạy trốn bất cứ đâu. Người ta có thể nói với người ấy như vầy: 'Này ông kia, có năm tên sát nhân là kẻ thù đang theo sát ông, chúng nghĩ rằng: "Hễ thấy hắn ở đâu, chúng ta sẽ giết hắn ngay tại đó." Này ông kia, việc gì ông cần làm thì hãy làm đi.'
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ayaṁ te, ambho purisa, chaṭṭho antaracaro vadhako ukkhittāsiko piṭṭhito piṭṭhito anubandho yattheva naṁ passissāmi tattheva siro pātessāmīti. Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Then that man, terrified of those four venomous vipers and those five deadly enemies, would flee this way or that.
They’d say to him, ‘My man, there’s a sixth hidden killer chasing you with a drawn sword, thinking: “When I catch sight of him, I’ll chop off his head right there!” So then, my man, do what has to be done.’
Rồi này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy, vì sợ hãi bốn con rắn độc có uy lực dữ dội, có nọc độc kinh khiếp, và sợ hãi năm tên sát nhân là kẻ thù, nên chạy trốn bất cứ đâu. Người ta có thể nói với người ấy như vầy: 'Này ông kia, có tên sát nhân thứ sáu, là kẻ nội gián, tay lăm lăm thanh gươm, đang theo sát ông, nó nghĩ rằng: "Hễ thấy hắn ở đâu, ta sẽ chém đầu hắn ngay tại đó." Này ông kia, việc gì ông cần làm thì hãy làm đi.'
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ, bhīto chaṭṭhassa antaracarassa vadhakassa ukkhittāsikassa yena vā tena vā palāyetha.
So passeyya suññaṁ gāmaṁ. Yaññadeva gharaṁ paviseyya rittakaññeva paviseyya tucchakaññeva paviseyya suññakaññeva paviseyya. Yaññadeva bhājanaṁ parimaseyya rittakaññeva parimaseyya tucchakaññeva parimaseyya suññakaññeva parimaseyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘idāni, ambho purisa, imaṁ suññaṁ gāmaṁ corā gāmaghātakā pavisanti. Yaṁ te, ambho purisa, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti.
Then that man, terrified of those four venomous vipers and those five deadly enemies and the hidden killer, would flee this way or that.
He’d see an empty village. But whatever house he enters is vacant, deserted, and empty. And whatever vessel he touches is vacant, hollow, and empty.
They’d say to him, ‘My man, there are bandits who raid villages, and they’re striking now. So then, my man, do what has to be done.’
Rồi này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy, vì sợ hãi bốn con rắn độc có uy lực dữ dội, có nọc độc kinh khiếp, sợ hãi năm tên sát nhân là kẻ thù, và sợ hãi tên sát nhân thứ sáu là kẻ nội gián tay lăm lăm thanh gươm, nên chạy trốn bất cứ đâu. Người ấy có thể thấy một ngôi làng bỏ hoang. Bất cứ ngôi nhà nào người ấy vào, cũng đều là nhà trống rỗng, nhà vô chủ, nhà hoang vắng. Bất cứ vật dụng nào người ấy sờ đến, cũng đều là vật trống rỗng, vật vô chủ, vật hoang vắng. Người ta có thể nói với người ấy như vầy: 'Này ông kia, bây giờ bọn cướp phá làng đang vào ngôi làng bỏ hoang này. Này ông kia, việc gì ông cần làm thì hãy làm đi.'
Atha kho so, bhikkhave, puriso bhīto catunnaṁ āsīvisānaṁ uggatejānaṁ ghoravisānaṁ, bhīto pañcannaṁ vadhakānaṁ paccatthikānaṁ, bhīto chaṭṭhassa antaracarassa vadhakassa ukkhittāsikassa, bhīto corānaṁ gāmaghātakānaṁ yena vā tena vā palāyetha.
So passeyya mahantaṁ udakaṇṇavaṁ orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ. Na cassa nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa evamassa: ‘ayaṁ kho mahāudakaṇṇavo orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ, natthi ca nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya. Yannūnāhaṁ tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ gaccheyyan’ti.
Then that man, terrified of those four venomous vipers and those five deadly enemies and the hidden killer and the bandits, would flee this way or that.
He’d see a large deluge, whose near shore is dubious and perilous, while the far shore is a sanctuary free of peril. But there’s no ferryboat or bridge for crossing over.
Then that man would think, ‘Why don’t I gather grass, sticks, branches, and leaves and make a raft? Riding on the raft, and paddling with my hands and feet, I can safely reach the far shore.’
Rồi này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy, vì sợ hãi bốn con rắn độc có uy lực dữ dội, có nọc độc kinh khiếp, sợ hãi năm tên sát nhân là kẻ thù, sợ hãi tên sát nhân thứ sáu là kẻ nội gián tay lăm lăm thanh gươm, và sợ hãi bọn cướp phá làng, nên chạy trốn bất cứ đâu. Người ấy có thể thấy một vùng nước lớn, bờ bên này đầy hiểm nguy và đáng sợ, bờ bên kia an ổn và không đáng sợ. Nhưng không có thuyền để qua sông hay cầu để đi từ bờ này sang bờ kia. Rồi này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy có thể suy nghĩ như vầy: 'Vùng nước lớn này, bờ bên này đầy hiểm nguy và đáng sợ, bờ bên kia an ổn và không đáng sợ, nhưng không có thuyền để qua sông hay cầu để đi từ bờ này sang bờ kia. Hay là ta hãy thu gom cỏ, củi, cành và lá cây, kết thành một cái bè, rồi nương vào cái bè ấy, dùng tay và chân cố gắng bơi qua bờ bên kia một cách an toàn.'
Atha kho so, bhikkhave, puriso tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ gaccheyya, tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo.
And so that man did exactly that. Having crossed over and gone to the far shore, the brahmin stands on solid ground.
Rồi này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy, sau khi thu gom cỏ, củi, cành và lá cây, kết thành một cái bè, nương vào cái bè ấy, dùng tay và chân cố gắng bơi, có thể qua bờ bên kia một cách an toàn. Đã vượt qua, đã đến bờ bên kia, vị Bà-la-môn đứng trên đất liền.
Upamā kho myāyaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya. Ayañcettha attho—
cattāro āsīvisā uggatejā ghoravisāti kho, bhikkhave, catunnetaṁ mahābhūtānaṁ adhivacanaṁ—pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā.
I’ve made up this simile to make a point. And this is the point.
‘Four venomous vipers of awesome might’ is a term for the four principal states: the elements of earth, water, fire, and air.
Này các Tỳ khưu, ví dụ này được Ta đưa ra để làm sáng tỏ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó: Này các Tỳ khưu, 'bốn con rắn độc, có uy lực dữ dội, có nọc độc kinh khiếp' là tên gọi khác của bốn đại chủng, đó là: địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.
Pañca vadhakā paccatthikāti kho, bhikkhave, pañcannetaṁ upādānakkhandhānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandhassa, vedanupādānakkhandhassa, saññupādānakkhandhassa, saṅkhārupādānakkhandhassa, viññāṇupādānakkhandhassa.
‘Five deadly enemies’ is a term for the five grasping aggregates, that is: form, feeling, perception, choices, and consciousness.
Này các Tỳ khưu, 'năm tên sát nhân là kẻ thù' là tên gọi khác của năm thủ uẩn, đó là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn.
Chaṭṭho antaracaro vadhako ukkhittāsikoti kho, bhikkhave, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
‘The sixth hidden killer with a drawn sword’ is a term for relishing and greed.
Này các Tỳ khưu, 'tên sát nhân thứ sáu, là kẻ nội gián, tay lăm lăm thanh gươm' là tên gọi khác của hỷ tham.
Suñño gāmoti kho, bhikkhave, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ. Cakkhuto cepi naṁ, bhikkhave, paṇḍito byatto medhāvī upaparikkhati rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, suññakaññeva khāyati …pe… jivhāto cepi naṁ, bhikkhave …pe… manato cepi naṁ, bhikkhave, paṇḍito byatto medhāvī upaparikkhati rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, suññakaññeva khāyati.
‘Empty village’ is a term for the six interior sense fields. If an astute, competent, intelligent person investigates that in relation to the eye, it appears vacant, hollow, and empty. If an astute, competent, intelligent person investigates that in relation to the ear … nose … tongue … body … mind, it appears vacant, hollow, and empty.
Này các Tỳ khưu, 'ngôi làng bỏ hoang' là tên gọi khác của sáu nội xứ. Này các Tỳ khưu, nếu một vị Tỳ khưu có trí tuệ, thông thái, sáng suốt, quán xét nó từ con mắt, nó hiện ra là trống rỗng, hiện ra là vô chủ, hiện ra là hoang vắng... (tương tự)... từ lưỡi... (tương tự)... Này các Tỳ khưu, nếu một vị Tỳ khưu có trí tuệ, thông thái, sáng suốt, quán xét nó từ ý, nó hiện ra là trống rỗng, hiện ra là vô chủ, hiện ra là hoang vắng.
Corā gāmaghātakāti kho, bhikkhave, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ. Cakkhu, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu rūpesu; sotaṁ, bhikkhave …pe… ghānaṁ, bhikkhave …pe… jivhā, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu rasesu; kāyo, bhikkhave …pe… mano, bhikkhave, haññati manāpāmanāpesu dhammesu.
‘Bandits who raid villages’ is a term for the six exterior sense fields. The eye is struck by both agreeable and disagreeable sights. The ear … nose … tongue … body … mind is struck by both agreeable and disagreeable ideas.
“Này các Tỳ khưu, ‘những tên cướp phá làng’ là tên gọi của sáu ngoại xứ này. Này các Tỳ khưu, mắt bị tấn công bởi các sắc pháp khả ý và không khả ý; tai, này các Tỳ khưu… này các Tỳ khưu, mũi… này các Tỳ khưu, lưỡi bị tấn công bởi các vị khả ý và không khả ý; thân, này các Tỳ khưu… này các Tỳ khưu, ý bị tấn công bởi các pháp khả ý và không khả ý.”
Mahā udakaṇṇavoti kho, bhikkhave, catunnetaṁ oghānaṁ adhivacanaṁ—kāmoghassa, bhavoghassa, diṭṭhoghassa, avijjoghassa.
‘Large deluge’ is a term for the four floods: the floods of sensual pleasures, desire to be reborn, views, and ignorance.
“Này các Tỳ khưu, ‘đại dương’ là tên gọi của bốn loại bộc lưu này, tức là: dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, và vô minh bộc.”
Orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayanti kho, bhikkhave, sakkāyassetaṁ adhivacanaṁ.
‘The near shore that’s dubious and perilous’ is a term for substantial reality.
“Này các Tỳ khưu, ‘bờ bên này, có hiểm nguy, có sợ hãi’ là tên gọi của thân kiến này.”
Pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayanti kho, bhikkhave, nibbānassetaṁ adhivacanaṁ.
‘The far shore, a sanctuary free of peril’ is a term for extinguishment.
“Này các Tỳ khưu, ‘bờ bên kia, an ổn, vô úy’ là tên gọi của Niết Bàn này.”
Kullanti kho, bhikkhave, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
‘The raft’ is a term for the noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Này các Tỳ khưu, ‘chiếc bè’ là tên gọi của Bát Thánh Đạo này, tức là: chánh kiến… cho đến… chánh định.”
Tassa hatthehi ca pādehi ca vāyāmoti kho, bhikkhave, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Paddling with hands and feet’ is a term for rousing energy.
“Này các Tỳ khưu, ‘sự nỗ lực bằng tay và chân của người ấy’ là tên gọi của sự tinh tấn khởi xướng này.”
Tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇoti kho, bhikkhave, arahato etaṁ adhivacanan”ti.
Paṭhamaṁ.
‘Crossed over, gone to the far shore, the brahmin stands on solid ground’ is a term for a perfected one.”
“Này các Tỳ khưu, ‘vị Bà-la-môn đã vượt qua, đã đến bờ bên kia, đứng trên đất liền’ là tên gọi của bậc A-la-hán.” Hết bài kinh thứ nhất.