- Saṁyutta Nikāya 35.232
- 18. Samuddavagga
Bản dịch
SN 35.232 — Kinh Koṭṭhika
Koṭṭhikasutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasii, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika nói với Tôn giả Sāriputta:
—Thưa Hiền giả, có phải con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt? … Có phải ý là kiết sử của các pháp hay các pháp là kiết sử của ý?
Vi-n 4 —Này Hiền giả Kotthika, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử … Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.
Vi-n 5 Ví như, này Hiền giả, một con bò đen và một con bò trắng bị cột lại bởi sợi dây hay cái ách. Nếu có người nói con bò đen là kiết sử của con bò trắng, hay con bò trắng là kiết sử của con bò đen, thời nói vậy có phải nói một cách chơn chánh không?
—Thưa không.
—Này Hiền giả, con bò đen không phải là kiết sử của con bò trắng. Và con bò trắng cũng không phải là kiết sử của con bò đen. Do sợi dây hay cái ách cột lại, cái ấy ở đây là kiết sử.
Này Hiền giả, cũng vậy, con mắt cũng không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử … Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.
Vi-n 6 Này Hiền giả, nếu con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, này Hiền giả, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc cũng không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố … Này Hiền giả, nếu ý là kiết sử của các pháp, hay các pháp là kiết sử của ý, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, ý không phải là kiết sử của các pháp, hay các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố.
Vi-n 7 Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của sắc. Sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử … Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.
Vi-n 8 Này Hiền giả, Thế Tôn có mắt. Với con mắt, Thế Tôn thấy sắc. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn … Này Hiền giả, Thế Tôn có ý. Với ý, Thế Tôn biết pháp. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn.
Vi-n 9 Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử … Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.232
- 18. The Ocean
With Koṭṭhita
5. Kinh Koṭṭhika
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye. Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi in the deer park at Isipatana. Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
232. Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhika trú tại Bārāṇasī, ở Isipatana, Migadāya. Khi ấy, vào buổi chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhika sau khi xuất khỏi nơi độc cư đã đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Sāriputta nói chuyện vui vẻ. Sau khi trao đổi những lời nói vui vẻ, đáng ghi nhớ, đã ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhika đã nói với Tôn giả Sāriputta điều này –
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ …pe… jivhā rasānaṁ saṁyojanaṁ, rasā jivhāya saṁyojanaṁ …pe… mano dhammānaṁ saṁyojanaṁ, dhammā manassa saṁyojanan”ti?
“Reverend Sāriputta, which is it? Is the eye the fetter of sights, or are sights the fetter of the eye? Is the ear … nose … tongue … body … mind the fetter of ideas, or are ideas the fetter of the mind?”
“Thưa hiền giả Sāriputta, có phải con mắt là sự trói buộc của các sắc pháp, hay các sắc pháp là sự trói buộc của con mắt?... v.v... có phải cái lưỡi là sự trói buộc của các vị, hay các vị là sự trói buộc của cái lưỡi?... v.v... có phải ý là sự trói buộc của các pháp, hay các pháp là sự trói buộc của ý?”
“Na kho, āvuso koṭṭhika, cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, na rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo taṁ tattha saṁyojanaṁ …pe… na jivhā rasānaṁ saṁyojanaṁ, na rasā jivhāya saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo taṁ tattha saṁyojanaṁ …pe… na mano dhammānaṁ saṁyojanaṁ, na dhammā manassa saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo taṁ tattha saṁyojanaṁ.
“Reverend Koṭṭhita, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.
“Này hiền giả Koṭṭhika, mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của mắt. Và ở nơi đó, do duyên cả hai mà dục tham nào sanh khởi, cái ấy là kiết sử ở nơi đó. ... Lưỡi không phải là kiết sử của các vị, các vị không phải là kiết sử của lưỡi. Và ở nơi đó, do duyên cả hai mà dục tham nào sanh khởi, cái ấy là kiết sử ở nơi đó. ... Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý. Và ở nơi đó, do duyên cả hai mà dục tham nào sanh khởi, cái ấy là kiết sử ở nơi đó.”
Seyyathāpi, āvuso, kāḷo ca balībaddo odāto ca balībaddo ekena dāmena vā yottena vā saṁyuttā assu. Yo nu kho evaṁ vadeyya: ‘kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṁyojanaṁ, odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṁyojanan’ti, sammā nu kho so vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”. “Na kho, āvuso, kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṁyojanaṁ, na odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṁyojanaṁ. Yena ca kho te ekena dāmena vā yottena vā saṁyuttā taṁ tattha saṁyojanaṁ.
Evameva kho, āvuso, na cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, na rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo taṁ tattha saṁyojanaṁ …pe… na jivhā rasānaṁ saṁyojanaṁ …pe… na mano dhammānaṁ saṁyojanaṁ, na dhammā manassa saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanaṁ.
Suppose there was a black ox and a white ox yoked by a single harness or yoke. Would it be right to say that the black ox is the yoke of the white ox, or the white ox is the yoke of the black ox?”
“No, reverend. The black ox is not the yoke of the white ox, nor is the white ox the yoke of the black ox. The yoke there is the single harness or yoke that they’re yoked by.”
“In the same way, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.
“Này hiền giả, ví như có con bò đực đen và con bò đực trắng được buộc chung bằng một sợi dây thừng hay một cái ách. Người nào nói như vầy: ‘Con bò đen là kiết sử của con bò trắng, con bò trắng là kiết sử của con bò đen,’ người ấy nói như vậy có đúng không?” “Thưa hiền giả, không phải vậy.” “Này hiền giả, không phải con bò đen là kiết sử của con bò trắng, cũng không phải con bò trắng là kiết sử của con bò đen. Nhưng sợi dây thừng hay cái ách mà chúng được buộc chung, cái ấy là kiết sử ở nơi đó. Cũng vậy, này hiền giả, không phải con mắt là kiết sử của các sắc, cũng không phải các sắc là kiết sử của con mắt... không phải lưỡi... không phải ý... Nhưng dục tham nào phát sanh do duyên cả hai thứ ấy, cái ấy là kiết sử ở nơi đó.” (Kinh thứ sáu).
Cakkhu vā, āvuso, rūpānaṁ saṁyojanaṁ abhavissa, rūpā vā cakkhussa saṁyojanaṁ, nayidaṁ brahmacariyavāso paññāyetha sammā dukkhakkhayāya. Yasmā ca kho, āvuso, na cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, na rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ; yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanaṁ, tasmā brahmacariyavāso paññāyati sammā dukkhakkhayāya …pe….
Jivhā, āvuso, rasānaṁ saṁyojanaṁ abhavissa, rasā vā jivhāya saṁyojanaṁ, nayidaṁ brahmacariyavāso paññāyetha sammā dukkhakkhayāya. Yasmā ca kho, āvuso, na jivhā rasānaṁ saṁyojanaṁ, na rasā jivhāya saṁyojanaṁ; yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanaṁ, tasmā brahmacariyavāso paññāyati sammā dukkhakkhayāya …pe….
If the eye were the fetter of sights, or if sights were the fetter of the eye, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering would not be found. However, since this is not the case, but the fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering is found.
If the ear … nose … tongue … body …
“Này hiền giả Ānanda, có phải con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt? ... Này hiền giả, có phải lưỡi là kiết sử của các vị, hay các vị là kiết sử của lưỡi? ... Này hiền giả, có phải ý là kiết sử của các pháp, hay các pháp là kiết sử của ý?”
Imināpetaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā na cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, na rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanaṁ …pe… na jivhā rasānaṁ saṁyojanaṁ …pe… na mano dhammānaṁ saṁyojanaṁ, na dhammā manassa saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanaṁ.
Saṁvijjati kho, āvuso, bhagavato cakkhu. Passati bhagavā cakkhunā rūpaṁ. Chandarāgo bhagavato natthi. Suvimuttacitto bhagavā. Saṁvijjati kho, āvuso, bhagavato sotaṁ. Suṇāti bhagavā sotena saddaṁ.
This too is a way to understand how this is so.
The Buddha has an eye with which he sees a sight. But he has no desire and greed, for his mind is well freed. The Buddha has an ear …
“Này hiền giả Kāmabhū, không phải con mắt là kiết sử của các sắc, cũng không phải các sắc là kiết sử của con mắt. Nhưng dục tham nào phát sanh do duyên cả hai thứ ấy, cái ấy là kiết sử ở nơi đó. ... Không phải lưỡi là kiết sử của các vị, cũng không phải các vị là kiết sử của lưỡi... Không phải ý là kiết sử của các pháp, cũng không phải các pháp là kiết sử của ý. Nhưng dục tham nào phát sanh do duyên cả hai thứ ấy, cái ấy là kiết sử ở nơi đó.”
Vijānāti bhagavā manasā dhammaṁ. Chandarāgo bhagavato natthi. Suvimuttacitto bhagavā.
with which he knows ideas. But he has no desire and greed, for his mind is well freed.
“Này hiền giả, Thế Tôn có mắt. Thế Tôn thấy sắc bằng mắt. Thế Tôn không có dục tham. Thế Tôn có tâm giải thoát hoàn toàn. Này hiền giả, Thế Tôn có tai. Thế Tôn nghe tiếng bằng tai. Thế Tôn không có dục tham. Thế Tôn có tâm giải thoát hoàn toàn. Này hiền giả, Thế Tôn có mũi. Thế Tôn ngửi mùi bằng mũi. Thế Tôn không có dục tham. Thế Tôn có tâm giải thoát hoàn toàn. Này hiền giả, Thế Tôn có lưỡi. Thế Tôn nếm vị bằng lưỡi. Thế Tôn không có dục tham. Thế Tôn có tâm giải thoát hoàn toàn. Này hiền giả, Thế Tôn có thân. Thế Tôn cảm xúc đối tượng xúc bằng thân. Thế Tôn không có dục tham. Thế Tôn có tâm giải thoát hoàn toàn. Này hiền giả, Thế Tôn có ý. Thế Tôn biết pháp bằng ý. Thế Tôn không có dục tham. Thế Tôn có tâm giải thoát hoàn toàn.”
Iminā kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā na cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, na rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ; yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanaṁ. Na sotaṁ … na ghānaṁ … na jivhā rasānaṁ saṁyojanaṁ, na rasā jivhāya saṁyojanaṁ; yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo taṁ tattha saṁyojanaṁ. Na kāyo … na mano dhammānaṁ saṁyojanaṁ, na dhammā manassa saṁyojanaṁ; yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanan”ti.
Pañcamaṁ.
This too is a way to understand how the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.”
“Này hiền giả, cũng nên biết điều này qua phương pháp này rằng: mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của mắt; và ở nơi đó, do duyên cả hai mà dục tham nào sanh khởi, cái ấy là kiết sử ở nơi đó. Tai không phải... mũi không phải... lưỡi không phải là kiết sử của các vị, các vị không phải là kiết sử của lưỡi; và ở nơi đó, do duyên cả hai mà dục tham nào sanh khởi, cái ấy là kiết sử ở nơi đó. Thân không phải... ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; và ở nơi đó, do duyên cả hai mà dục tham nào sanh khởi, cái ấy là kiết sử ở nơi đó.” Hết bài kinh thứ năm.