- Saṁyutta Nikāya 35.231
- 18. Samuddavagga
Bản dịch
SN 35.231 — Kinh Ví Dụ Cây Có Nhựa
Khīrarukkhopamasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2-6. —Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận … Ðối với các tiếng do tai nhận thức … Ðối với các hương do mũi nhận thức … Ðối với các vị do lưỡi nhận thức … Ðối với các xúc do thân nhận thức …
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận.
Vi-n 8 Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, hoặc cây Bồ-đề (assaṭṭha), hoặc cây bàng (nigrodha), hoặc cây sanh (pilakkha), hoặc cây udumbara, hoặc một loại cây còn tươi. Rồi một người với cái búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Vì sao?
—Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy có nhựa.
Vi-n 9 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận … Ðối với các tiếng do tai nhận thức … Ðối với các hương do mũi nhận thức … Ðối với các vị do lưỡi nhận thức … Ðối với các xúc do thân nhận thức …
Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận.
Vi-n 10-14. Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham, không có sân, không có si, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận … Ðối với các tiếng do tai nhận thức … Ðối với các hương do mũi nhận thức … Ðối với các vị do lưỡi nhận thức … Ðối với các xúc do thân nhận thức …
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham, không có sân, không có si, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.
Vi-n 16 Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, cây Bồ-đề hay cây bàng, hay cây sanh, hay cây udumbara đã khô héo, không có nhựa, đã quá mùa. Rồi một người với cây búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Vì sao?
—Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy không có nhựa.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si … si ấy đã đoạn tận … Ðối với các pháp do ý nhận thức, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham ấy, không có sân ấy, không có si ấy, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.231
- 18. The Ocean
The Simile of the Latex-Producing Tree
4. Kinh Ví Dụ Cây Có Nhựa
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno tassa parittā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṁ āgacchanti pariyādiyantevassa cittaṁ; ko pana vādo adhimattānaṁ. Taṁ kissa hetu? Yo, bhikkhave, rāgo, so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno …pe….
“Mendicants, take any monk or nun who, when it comes to sights known by the eye, still has greed, hate, and delusion, and has not given them up. If even trivial sights come into their range of vision they overcome their mind, let alone those that are compelling. Why is that? Because they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up.
231. Này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào, đối với các sắc được nhận biết bởi nhãn thức, tham nào có mặt, thì tham đó có mặt; sân nào có mặt, thì sân đó có mặt; si nào có mặt, thì si đó có mặt; tham nào chưa được đoạn trừ, sân nào chưa được đoạn trừ, si nào chưa được đoạn trừ, thì đối với vị ấy, dù chỉ có những sắc nhỏ được nhận biết bởi nhãn thức đi vào tầm nhận biết của mắt, chúng cũng chiếm đoạt tâm của vị ấy; huống nữa là những sắc vượt trội! Do nguyên nhân gì? Này các Tỳ khưu, vì tham nào có mặt, thì tham đó có mặt, sân nào có mặt, thì sân đó có mặt, si nào có mặt, thì si đó có mặt; tham nào chưa được đoạn trừ, sân nào chưa được đoạn trừ, si nào chưa được đoạn trừ...
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu yo rāgo so atthi …pe….
When it comes to sounds … smells … tastes … touches …
Này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào, đối với các vị được nhận biết bởi thiệt thức, tham nào có mặt... (v.v)...
Này các Tỳ khưu, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào, đối với các pháp được nhận biết bởi ý thức, tham nào có mặt, thì tham đó có mặt; sân nào có mặt, thì sân đó có mặt; si nào có mặt, thì si đó có mặt; tham nào chưa được đoạn trừ, sân nào chưa được đoạn trừ, si nào chưa được đoạn trừ, thì đối với vị ấy, dù chỉ có những pháp nhỏ được nhận biết bởi ý thức đi vào tầm nhận biết của ý, chúng cũng chiếm đoạt tâm của vị ấy; huống nữa là những pháp vượt trội! Do nguyên nhân gì? Này các Tỳ khưu, vì tham nào có mặt, thì tham đó có mặt, sân nào có mặt, thì sân đó có mặt, si nào có mặt, thì si đó có mặt; tham nào chưa được đoạn trừ, sân nào chưa được đoạn trừ, si nào chưa được đoạn trừ.
Seyyathāpi, bhikkhave, khīrarukkho assattho vā nigrodho vā pilakkho vā udumbaro vā daharo taruṇo komārako. Tamenaṁ puriso tiṇhāya kuṭhāriyā yato yato ābhindeyya āgaccheyya khīran”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”? “Yañhi, bhante, khīraṁ taṁ atthī”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno, tassa parittā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṁ āgacchanti pariyādiyantevassa cittaṁ; ko pana vādo adhimattānaṁ. Taṁ kissa hetu? Yo, bhikkhave, rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno …pe….
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu yo rāgo so atthi …pe…. Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno, tassa parittā cepi manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṁ āgacchanti pariyādiyantevassa cittaṁ; ko pana vādo adhimattānaṁ. Taṁ kissa hetu? Yo, bhikkhave, rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno.
Suppose there was a latex-producing tree—such as a peepal, a banyan, a wavy leaf fig, or a cluster fig—that’s a tender young sapling. If a man were to chop it here and there with a sharp axe, would latex come out?”
“Yes, sir.
Why is that? Because it still has latex.”
“In the same way, take any monk or nun who, when it comes to sights known by the eye, still has greed, hate, and delusion, and has not given them up. If even trivial sights come into their range of vision they overcome their mind, let alone those that are compelling. Why is that? Because they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up.
When it comes to sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up. If even trivial thoughts come into the range of the mind they overcome their mind, let alone those that are compelling. Why is that? Because they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up.
Này các Tỳ khưu, ví như có một cây có nhựa, hoặc là cây bồ đề, hoặc là cây đa, hoặc là cây pilakkha, hoặc là cây sung, còn non, trẻ, nhỏ. Một người dùng rìu sắc bén chặt vào nó từ bất cứ chỗ nào, nhựa sẽ chảy ra chăng?" "Bạch Thế Tôn, đúng vậy." "Do nguyên nhân gì?" "Bạch Thế Tôn, vì có nhựa ở đó."
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno, tassa adhimattā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṁ āgacchanti nevassa cittaṁ pariyādiyanti; ko pana vādo parittānaṁ. Taṁ kissa hetu? Yo, bhikkhave, rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno …pe….
Take any monk or nun who, when it comes to sights known by the eye, has no greed, hate, and delusion left, and has given them up. If even compelling sights come into their range of vision they don’t overcome their mind, let alone those that are trivial. Why is that? Because they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up.
“Này các tỳ khưu, đối với bất kỳ tỳ khưu hay tỳ khưu ni nào, ở các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, tham nào có mặt thì tham ấy không có, sân nào có mặt thì sân ấy không có, si nào có mặt thì si ấy không có; tham nào có mặt thì tham ấy đã được đoạn trừ, sân nào có mặt thì sân ấy đã được đoạn trừ, si nào có mặt thì si ấy đã được đoạn trừ. Đối với vị ấy, cho dù có các sắc pháp vượt trội được nhận biết bởi nhãn thức đi vào tầm nhìn của con mắt, chúng cũng không chiếm đoạt tâm của vị ấy; huống nữa là các sắc pháp nhỏ nhiệm! Điều ấy vì lý do gì? Này các tỳ khưu, vì tham nào có mặt thì tham ấy không có, sân nào có mặt thì sân ấy không có, si nào có mặt thì si ấy không có; tham nào có mặt thì tham ấy đã được đoạn trừ, sân nào có mặt thì sân ấy đã được đoạn trừ, si nào có mặt thì si ấy đã được đoạn trừ... v.v...”
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu …pe… manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno, tassa adhimattā cepi manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṁ āgacchanti nevassa cittaṁ pariyādiyanti; ko pana vādo parittānaṁ. Taṁ kissa hetu? Yo, bhikkhave, rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno.
Seyyathāpi, bhikkhave, khīrarukkho assattho vā nigrodho vā pilakkho vā udumbaro vā sukkho kolāpo terovassiko. Tamenaṁ puriso tiṇhāya kuṭhāriyā yato yato ābhindeyya āgaccheyya khīran”ti?
“No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Yañhi, bhante, khīraṁ taṁ natthī”ti.
When it comes to sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up. If even compelling ideas come into the range of the mind they don’t overcome their mind, let alone those that are trivial. Why is that? Because they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up.
Suppose there was a latex-producing tree—such as a peepal, a banyan, a wavy leaf fig, or a cluster fig—that’s dried up, withered, and decrepit. If a man were to chop it here and there with a sharp axe, would latex come out?”
“No, sir. Why is that? Because it has no latex left.”
“Này các tỳ khưu, đối với bất kỳ tỳ khưu hay tỳ khưu ni nào, ở các vị được nhận biết bởi thiệt thức... v.v... ở các pháp được nhận biết bởi ý thức, tham nào có mặt thì tham ấy không có, sân nào có mặt thì sân ấy không có, si nào có mặt thì si ấy không có; tham nào có mặt thì tham ấy đã được đoạn trừ, sân nào có mặt thì sân ấy đã được đoạn trừ, si nào có mặt thì si ấy đã được đoạn trừ. Đối với vị ấy, cho dù có các pháp vượt trội được nhận biết bởi ý thức đi vào tầm hoạt động của ý, chúng cũng không chiếm đoạt tâm của vị ấy; huống nữa là các pháp nhỏ nhiệm! Điều ấy vì lý do gì? Này các tỳ khưu, vì tham nào có mặt thì tham ấy không có, sân nào có mặt thì sân ấy không có, si nào có mặt thì si ấy không có; tham nào có mặt thì tham ấy đã được đoạn trừ, sân nào có mặt thì sân ấy đã được đoạn trừ, si nào có mặt thì si ấy đã được đoạn trừ. Này các tỳ khưu, ví như có một cây có mủ, hoặc là cây bồ đề, hoặc là cây đa, hoặc là cây pilakkha, hoặc là cây sung, đã khô, mục rữa, trải qua ba năm. Rồi một người đàn ông dùng rìu bén chặt vào bất cứ chỗ nào, liệu mủ có chảy ra không?” “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” “Điều ấy vì lý do gì?” “Bạch Thế Tôn, vì mủ nào có thì mủ ấy không còn nữa.”
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno, tassa adhimattā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṁ āgacchanti nevassa cittaṁ pariyādiyanti; ko pana vādo parittānaṁ. Taṁ kissa hetu? Yo, bhikkhave, rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno …pe….
“In the same way, take any monk or nun who, when it comes to sights known by the eye, has no greed, hate, and delusion left, and has given them up. If even compelling sights come into their range of vision they don’t overcome their mind, let alone those that are trivial. Why is that? Because they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up.
“Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, đối với bất kỳ tỳ khưu hay tỳ khưu ni nào, ở các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, tham nào có mặt thì tham ấy không có, sân nào có mặt thì sân ấy không có, si nào có mặt thì si ấy không có; tham nào có mặt thì tham ấy đã được đoạn trừ, sân nào có mặt thì sân ấy đã được đoạn trừ, si nào có mặt thì si ấy đã được đoạn trừ. Đối với vị ấy, cho dù có các sắc pháp vượt trội được nhận biết bởi nhãn thức đi vào tầm nhìn của con mắt, chúng cũng không chiếm đoạt tâm của vị ấy; huống nữa là các sắc pháp nhỏ nhiệm! Điều ấy vì lý do gì? Này các tỳ khưu, vì tham nào có mặt thì tham ấy không có, sân nào có mặt thì sân ấy không có, si nào có mặt thì si ấy không có; tham nào có mặt thì tham ấy đã được đoạn trừ, sân nào có mặt thì sân ấy đã được đoạn trừ, si nào có mặt thì si ấy đã được đoạn trừ... v.v...”
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu …pe….
When it comes to sounds … smells … tastes … touches …
“Này các tỳ khưu, đối với bất kỳ tỳ khưu hay tỳ khưu ni nào, ở các vị được nhận biết bởi thiệt thức... v.v...”
Catutthaṁ.
“Này các tỳ khưu, đối với bất kỳ tỳ khưu hay tỳ khưu ni nào, ở các pháp được nhận biết bởi ý thức, tham nào có mặt thì tham ấy không có, sân nào có mặt thì sân ấy không có, si nào có mặt thì si ấy không có; tham nào có mặt thì tham ấy đã được đoạn trừ, sân nào có mặt thì sân ấy đã được đoạn trừ, si nào có mặt thì si ấy đã được đoạn trừ. Đối với vị ấy, cho dù có các pháp vượt trội được nhận biết bởi ý thức đi vào tầm hoạt động của ý, chúng cũng không chiếm đoạt tâm của vị ấy; huống nữa là các pháp nhỏ nhiệm! Điều ấy vì lý do gì? Này các tỳ khưu, vì tham nào có mặt thì tham ấy không có, sân nào có mặt thì sân ấy không có, si nào có mặt thì si ấy không có; tham nào có mặt thì tham ấy đã được đoạn trừ, sân nào có mặt thì sân ấy đã được đoạn trừ, si nào có mặt thì si ấy đã được đoạn trừ.” (Kinh) thứ tư.