- Saṁyutta Nikāya 35.233
- 18. Samuddavagga
Bản dịch
SN 35.233 — Kinh Kāmabhū
Kāmabhūsutta
(Tôn giả Kàmabhù đi đến Tôn giả Ānanda và hỏi cùng một câu và được trả lời tương tự như kinh trước).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.233
- 18. The Ocean
With Kāmabhū
6. Kinh Kāmabhū
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca ānando āyasmā ca kāmabhū kosambiyaṁ viharanti ghositārāme.
Atha kho āyasmā kāmabhū sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kāmabhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
At one time the venerables Ānanda and Kāmabhū were staying near Kosambī in Ghosita’s monastery.
Then in the late afternoon, Venerable Kāmabhū came out of retreat, went to Venerable Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Ānanda:
233. Một thời, Tôn giả Ānanda và Tôn giả Kāmabhū trú tại tu viện Ghosita, ở Kosambī. Rồi Tôn giả Kāmabhū, vào buổi chiều, sau khi đứng dậy từ nơi độc cư, đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Ānanda nói lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Kāmabhū nói với Tôn giả Ānanda điều này:
“Kiṁ nu kho, āvuso ānanda, cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ …pe… jivhā rasānaṁ saṁyojanaṁ, rasā jivhāya saṁyojanaṁ …pe… mano dhammānaṁ saṁyojanaṁ, dhammā manassa saṁyojanan”ti?
“Reverend Ānanda, which is it? Is the eye the fetter of sights, or are sights the fetter of the eye? Is the ear … nose … tongue … body … mind the fetter of ideas, or are ideas the fetter of the mind?”
“Này hiền giả Ānanda, có phải con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt? ... Này hiền giả, có phải lưỡi là kiết sử của các vị, hay các vị là kiết sử của lưỡi? ... Này hiền giả, có phải ý là kiết sử của các pháp, hay các pháp là kiết sử của ý?”
“Na kho, āvuso kāmabhū, cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, na rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanaṁ …pe… na jivhā rasānaṁ saṁyojanaṁ, na rasā jivhāya saṁyojanaṁ …pe… na mano dhammānaṁ saṁyojanaṁ, na dhammā manassa saṁyojanaṁ. Yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo taṁ tattha saṁyojanaṁ.
“Reverend Kāmabhū, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.
“Này hiền giả Kāmabhū, không phải con mắt là kiết sử của các sắc, cũng không phải các sắc là kiết sử của con mắt. Nhưng dục tham nào phát sanh do duyên cả hai thứ ấy, cái ấy là kiết sử ở nơi đó. ... Không phải lưỡi là kiết sử của các vị, cũng không phải các vị là kiết sử của lưỡi... Không phải ý là kiết sử của các pháp, cũng không phải các pháp là kiết sử của ý. Nhưng dục tham nào phát sanh do duyên cả hai thứ ấy, cái ấy là kiết sử ở nơi đó.”
Seyyathāpi, āvuso, kāḷo ca balībaddo odāto ca balībaddo ekena dāmena vā yottena vā saṁyuttā assu. Yo nu kho evaṁ vadeyya: ‘kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṁyojanaṁ, odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṁyojanan’ti, sammā nu kho so vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”. “Na kho, āvuso, kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṁyojanaṁ, napi odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṁyojanaṁ. Yena ca kho te ekena dāmena vā yottena vā saṁyuttā, taṁ tattha saṁyojanaṁ.
Evameva kho, āvuso, na cakkhu rūpānaṁ saṁyojanaṁ, na rūpā cakkhussa saṁyojanaṁ …pe… na jivhā …pe… na mano …pe… yañca tattha tadubhayaṁ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṁ tattha saṁyojanan”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Suppose there was a black ox and a white ox yoked by a single harness or yoke. Would it be right to say that the black ox is the yoke of the white ox, or the white ox is the yoke of the black ox?”
“No, reverend. The black ox is not the yoke of the white ox, nor is the white ox the yoke of the black ox. The yoke there is the single harness or yoke that they’re yoked by.”
“In the same way, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.”
“Này hiền giả, ví như có con bò đực đen và con bò đực trắng được buộc chung bằng một sợi dây thừng hay một cái ách. Người nào nói như vầy: ‘Con bò đen là kiết sử của con bò trắng, con bò trắng là kiết sử của con bò đen,’ người ấy nói như vậy có đúng không?” “Thưa hiền giả, không phải vậy.” “Này hiền giả, không phải con bò đen là kiết sử của con bò trắng, cũng không phải con bò trắng là kiết sử của con bò đen. Nhưng sợi dây thừng hay cái ách mà chúng được buộc chung, cái ấy là kiết sử ở nơi đó. Cũng vậy, này hiền giả, không phải con mắt là kiết sử của các sắc, cũng không phải các sắc là kiết sử của con mắt... không phải lưỡi... không phải ý... Nhưng dục tham nào phát sanh do duyên cả hai thứ ấy, cái ấy là kiết sử ở nơi đó.” (Kinh thứ sáu).