- Saṁyutta Nikāya 35.18
- 2. Yamakavagga
Bản dịch
SN 35.18 — Kinh Nếu Không Có Vị Ngọt (Thứ Hai)
Dutiyanoceassādasutta
(Như Kinh trước, chỉ thế vào sáu ngoại xứ: sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp, thay cho sáu nội xứ của Kinh trước)
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.18
- 2. Pairs
If There Were No Gratification (Exterior)
6. Kinh Nếu Không Có Vị Ngọt (Thứ Hai)
“No cedaṁ, bhikkhave, rūpānaṁ assādo abhavissa, nayidaṁ sattā rūpesu sārajjeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi rūpānaṁ assādo, tasmā sattā rūpesu sārajjanti. No cedaṁ, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo abhavissa, nayidaṁ sattā rūpesu nibbindeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi rūpānaṁ ādīnavo, tasmā sattā rūpesu nibbindanti. No cedaṁ, bhikkhave, rūpānaṁ nissaraṇaṁ abhavissa, nayidaṁ sattā rūpehi nissareyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi rūpānaṁ nissaraṇaṁ, tasmā sattā rūpehi nissaranti. No cedaṁ, bhikkhave, saddānaṁ … gandhānaṁ … rasānaṁ … phoṭṭhabbānaṁ … dhammānaṁ assādo abhavissa, nayidaṁ sattā dhammesu sārajjeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi dhammānaṁ assādo, tasmā sattā dhammesu sārajjanti. No cedaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ ādīnavo abhavissa, nayidaṁ sattā dhammesu nibbindeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi dhammānaṁ ādīnavo, tasmā sattā dhammesu nibbindanti. No cedaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ nissaraṇaṁ abhavissa, nayidaṁ sattā dhammehi nissareyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi dhammānaṁ nissaraṇaṁ, tasmā sattā dhammehi nissaranti.
“Mendicants, if there were no gratification in sights, sentient beings wouldn’t be aroused by them. …”
18. “Này các Tỳ khưu, nếu như không có vị ngọt này của các sắc, chúng sanh đã không tham đắm ở các sắc. Và này các Tỳ khưu, chính vì có vị ngọt của các sắc, nên chúng sanh tham đắm ở các sắc. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự nguy hại này của các sắc, chúng sanh đã không nhàm chán ở các sắc. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự nguy hại của các sắc, nên chúng sanh nhàm chán ở các sắc. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự giải thoát này khỏi các sắc, chúng sanh đã không giải thoát khỏi các sắc. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự giải thoát khỏi các sắc, nên chúng sanh giải thoát khỏi các sắc. Này các Tỳ khưu, nếu như không có của các tiếng... của các mùi hương... của các vị nếm... của các vật xúc chạm... nếu như không có vị ngọt này của các pháp, chúng sanh đã không tham đắm ở các pháp. Và này các Tỳ khưu, chính vì có vị ngọt của các pháp, nên chúng sanh tham đắm ở các pháp. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự nguy hại này của các pháp, chúng sanh đã không nhàm chán ở các pháp. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự nguy hại của các pháp, nên chúng sanh nhàm chán ở các pháp. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự giải thoát này khỏi các pháp, chúng sanh đã không giải thoát khỏi các pháp. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự giải thoát khỏi các pháp, nên chúng sanh giải thoát khỏi các pháp.”
Yāvakīvañca, bhikkhave, sattā imesaṁ channaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ assādañca assādato, ādīnavañca ādīnavato, nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nābbhaññaṁsu, neva tāva, bhikkhave, sattā sadevakā lokā samārakā sabrahmakā sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya nissaṭā visaññuttā vippamuttā vimariyādīkatena cetasā vihariṁsu. Yato ca kho, bhikkhave, sattā imesaṁ channaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ assādañca assādato, ādīnavañca ādīnavato, nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ abbhaññaṁsu, atha, bhikkhave, sattā sadevakā lokā samārakā sabrahmakā sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya nissaṭā visaññuttā vippamuttā vimariyādīkatena cetasā viharantī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Này các Tỳ khưu, khi nào chúng sanh chưa Như thật tuệ tri vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm, sự xuất ly là sự xuất ly của sáu ngoại xứ này, thời này các Tỳ khưu, khi ấy chúng sanh không có xuất ly, không có thoát ly, không có giải thoát khỏi thế giới gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa môn, Bà la môn, chư Thiên và loài Người, sống với tâm không có giới hạn. Và này các Tỳ khưu, khi nào chúng sanh đã Như thật tuệ tri vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm, sự xuất ly là sự xuất ly của sáu ngoại xứ này, thời này các Tỳ khưu, khi ấy chúng sanh có xuất ly, có thoát ly, có giải thoát khỏi thế giới gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa môn, Bà la môn, chư Thiên và loài Người, sống với tâm không có giới hạn.” (Kinh) thứ sáu.