- Saṁyutta Nikāya 35.17
- 2. Yamakavagga
Bản dịch
SN 35.17 — Kinh Nếu Không Có Vị Ngọt, kinh thứ nhất
Paṭhamanoceassādasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Nếu mắt không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, chúng sanh có thể không tham luyến mắt. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, mắt có vị ngọt nên chúng sanh tham luyến mắt.
Vi-n 3 Nếu mắt không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với mắt. Và vì rằng mắt có nguy hiểm nên chúng sanh nhàm chán đối với mắt.
Vi-n 4 Nếu mắt không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không có thể xuất ly khỏi mắt. Và vì rằng mắt có xuất ly nên chúng sanh có xuất ly khỏi mắt.
Vi-n 5-7. Nếu tai không có vị ngọt …
Vi-n 8-10. Nếu mũi không có vị ngọt …
Vi-n 11-13. Nếu lưỡi không có vị ngọt …
Vi-n 14-16. Nếu thân không có vị ngọt …
Vi-n 17 Nếu ý không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không tham luyến đối với ý. Và vì rằng ý có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có tham luyến đối với ý.
Vi-n 18 Nếu ý không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với ý. Và vì rằng ý có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có nhàm chán đối với ý.
Vi-n 19 Nếu ý không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không xuất ly ra khỏi ý. Và vì rằng ý có sự xuất ly, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh xuất ly ra khỏi ý.
Vi-n 20 Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này không như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh ấy cùng với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, đã không sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.
Vi-n 21 Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho nên, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh cùng với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, đã sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.17
- 2. Pairs
If There Were No Gratification (Interior)
5. Kinh Nếu Không Có Vị Ngọt, kinh thứ nhất
“No cedaṁ, bhikkhave, cakkhussa assādo abhavissa, nayidaṁ sattā cakkhusmiṁ sārajjeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi cakkhussa assādo tasmā sattā cakkhusmiṁ sārajjanti. No cedaṁ, bhikkhave, cakkhussa ādīnavo abhavissa, nayidaṁ sattā cakkhusmiṁ nibbindeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi cakkhussa ādīnavo tasmā sattā cakkhusmiṁ nibbindanti. No cedaṁ, bhikkhave, cakkhussa nissaraṇaṁ abhavissa, nayidaṁ sattā cakkhusmā nissareyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi cakkhussa nissaraṇaṁ tasmā sattā cakkhusmā nissaranti.
No cedaṁ, bhikkhave, sotassa assādo abhavissa … no cedaṁ, bhikkhave, ghānassa assādo abhavissa … no cedaṁ, bhikkhave, jivhāya assādo abhavissa, nayidaṁ sattā jivhāya sārajjeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi jivhāya assādo, tasmā sattā jivhāya sārajjanti. No cedaṁ, bhikkhave, jivhāya ādīnavo abhavissa, nayidaṁ sattā jivhāya nibbindeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi jivhāya ādīnavo, tasmā sattā jivhāya nibbindanti. No cedaṁ, bhikkhave, jivhāya nissaraṇaṁ abhavissa, nayidaṁ sattā jivhāya nissareyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi jivhāya nissaraṇaṁ, tasmā sattā jivhāya nissaranti. No cedaṁ, bhikkhave, kāyassa assādo abhavissa … no cedaṁ, bhikkhave, manassa assādo abhavissa, nayidaṁ sattā manasmiṁ sārajjeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi manassa assādo, tasmā sattā manasmiṁ sārajjanti. No cedaṁ, bhikkhave, manassa ādīnavo abhavissa, nayidaṁ sattā manasmiṁ nibbindeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi manassa ādīnavo, tasmā sattā manasmiṁ nibbindanti. No cedaṁ, bhikkhave, manassa nissaraṇaṁ abhavissa, nayidaṁ sattā manasmā nissareyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi manassa nissaraṇaṁ, tasmā sattā manasmā nissaranti.
“Mendicants, if there were no gratification in the eye, sentient beings wouldn’t be aroused by it. But since there is gratification in the eye, sentient beings are aroused by it. If the eye had no drawback, sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But since the eye has a drawback, sentient beings do grow disillusioned with it. If there were no escape from the eye, sentient beings wouldn’t escape from it. But since there is an escape from the eye, sentient beings do escape from it.
If there were no gratification in the ear … nose … tongue … body … mind, sentient beings wouldn’t be aroused by it. But since there is gratification in the mind, sentient beings are aroused by it. If the mind had no drawback, sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But since the mind has a drawback, sentient beings do grow disillusioned with it. If there were no escape from the mind, sentient beings wouldn’t escape from it. But since there is an escape from the mind, sentient beings do escape from it.
17. “Này các Tỳ khưu, nếu như không có vị ngọt này của mắt, chúng sanh đã không tham đắm ở mắt. Và này các Tỳ khưu, chính vì có vị ngọt của mắt nên chúng sanh tham đắm ở mắt. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự nguy hại này của mắt, chúng sanh đã không nhàm chán ở mắt. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự nguy hại của mắt nên chúng sanh nhàm chán ở mắt. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự giải thoát này khỏi mắt, chúng sanh đã không giải thoát khỏi mắt. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự giải thoát khỏi mắt nên chúng sanh giải thoát khỏi mắt. Này các Tỳ khưu, nếu như không có vị ngọt này của tai... Này các Tỳ khưu, nếu như không có vị ngọt này của mũi... Này các Tỳ khưu, nếu như không có vị ngọt này của lưỡi, chúng sanh đã không tham đắm ở lưỡi. Và này các Tỳ khưu, chính vì có vị ngọt của lưỡi, nên chúng sanh tham đắm ở lưỡi. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự nguy hại này của lưỡi, chúng sanh đã không nhàm chán ở lưỡi. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự nguy hại của lưỡi, nên chúng sanh nhàm chán ở lưỡi. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự giải thoát này khỏi lưỡi, chúng sanh đã không giải thoát khỏi lưỡi. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự giải thoát khỏi lưỡi, nên chúng sanh giải thoát khỏi lưỡi. Này các Tỳ khưu, nếu như không có vị ngọt này của thân... Này các Tỳ khưu, nếu như không có vị ngọt này của ý, chúng sanh đã không tham đắm ở ý. Và này các Tỳ khưu, chính vì có vị ngọt của ý, nên chúng sanh tham đắm ở ý. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự nguy hại này của ý, chúng sanh đã không nhàm chán ở ý. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự nguy hại của ý, nên chúng sanh nhàm chán ở ý. Này các Tỳ khưu, nếu như không có sự giải thoát này khỏi ý, chúng sanh đã không giải thoát khỏi ý. Và này các Tỳ khưu, chính vì có sự giải thoát khỏi ý, nên chúng sanh giải thoát khỏi ý.”
Yāvakīvañca, bhikkhave, sattā imesaṁ channaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ assādañca assādato, ādīnavañca ādīnavato, nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nābbhaññaṁsu, neva tāva, bhikkhave, sattā sadevakā lokā samārakā sabrahmakā sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya nissaṭā visaññuttā vippamuttā vimariyādīkatena cetasā vihariṁsu.
Yato ca kho, bhikkhave, sattā imesaṁ channaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ assādañca assādato, ādīnavañca ādīnavato, nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ abbhaññaṁsu, atha, bhikkhave, sattā sadevakā lokā samārakā sabrahmakā sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya nissaṭā visaññuttā vippamuttā vimariyādīkatena cetasā viharantī”ti.
Pañcamaṁ.
As long as sentient beings don’t truly understand these six interior sense fields’ gratification, drawback, and escape for what they are, they haven’t escaped from this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—and they don’t live detached, liberated, with mind free of boundaries.
But when sentient beings truly understand these six interior sense fields’ gratification, drawback, and escape for what they are, they’ve escaped from this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—and they live detached, liberated, with mind free of boundaries.”
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào chúng sanh chưa thắng tri đúng như thật về vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự giải thoát là sự giải thoát của sáu xứ nội này, thì này các Tỳ khưu, cho đến khi ấy chúng sanh đã không xuất ly, không tách rời, không giải thoát khỏi thế gian bao gồm chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, khỏi chúng sanh bao gồm Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, và đã không sống với tâm không giới hạn. Và này các Tỳ khưu, kể từ khi chúng sanh đã thắng tri đúng như thật về vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự giải thoát là sự giải thoát của sáu xứ nội này, thì này các Tỳ khưu, khi ấy chúng sanh đã xuất ly, đã tách rời, đã giải thoát khỏi thế gian bao gồm chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, khỏi chúng sanh bao gồm Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, và sống với tâm không giới hạn.” Kinh thứ năm.