- Saṁyutta Nikāya 35.16
- 2. Yamakavagga
Bản dịch
SN 35.16 — Kinh Tìm Cầu Vị Ngọt, kinh thứ hai
Dutiyaassādapariyesanasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các sắc. Có vị ngọt nào của các sắc, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các sắc. Có nguy hiểm nào của các sắc, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của các sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 3-6. … các tiếng … các hương … các vị … các xúc …
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các pháp. Có vị ngọt nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các pháp. Có nguy hiểm nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 8-9. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu ngoại xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly …
Vi-n 10 Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.16
- 2. Pairs
In Search of Gratification (Exterior)
4. Kinh Tìm Cầu Vị Ngọt, kinh thứ hai
“Rūpānāhaṁ, bhikkhave, assādapariyesanaṁ acariṁ. Yo rūpānaṁ assādo tadajjhagamaṁ. Yāvatā rūpānaṁ assādo paññāya me so sudiṭṭho. Rūpānāhaṁ, bhikkhave, ādīnavapariyesanaṁ acariṁ. Yo rūpānaṁ ādīnavo tadajjhagamaṁ. Yāvatā rūpānaṁ ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho. Rūpānāhaṁ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṁ acariṁ. Yaṁ rūpānaṁ nissaraṇaṁ tadajjhagamaṁ. Yāvatā rūpānaṁ nissaraṇaṁ, paññāya me taṁ sudiṭṭhaṁ. Saddānāhaṁ, bhikkhave … gandhānāhaṁ, bhikkhave … rasānāhaṁ, bhikkhave … phoṭṭhabbānāhaṁ, bhikkhave … dhammānāhaṁ, bhikkhave, assādapariyesanaṁ acariṁ. Yo dhammānaṁ assādo tadajjhagamaṁ. Yāvatā dhammānaṁ assādo paññāya me so sudiṭṭho. Dhammānāhaṁ, bhikkhave, ādīnavapariyesanaṁ acariṁ. Yo dhammānaṁ ādīnavo tadajjhagamaṁ. Yāvatā dhammānaṁ ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho. Dhammānāhaṁ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṁ acariṁ. Yaṁ dhammānaṁ nissaraṇaṁ tadajjhagamaṁ. Yāvatā dhammānaṁ nissaraṇaṁ, paññāya me taṁ sudiṭṭhaṁ.
“Mendicants, I went in search of the gratification of sights, and I found it. …”
16. “Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu vị ngọt của các đối tượng sắc. Vị ngọt nào của các đối tượng sắc, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là vị ngọt của các đối tượng sắc, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự nguy hại của các đối tượng sắc. Sự nguy hại nào của các đối tượng sắc, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự nguy hại của các đối tượng sắc, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự xuất ly khỏi các đối tượng sắc. Sự xuất ly nào khỏi các đối tượng sắc, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự xuất ly khỏi các đối tượng sắc, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta ... đối với các đối tượng thanh ... Này các Tỳ khưu, Ta ... đối với các đối tượng hương ... Này các Tỳ khưu, Ta ... đối với các đối tượng vị ... Này các Tỳ khưu, Ta ... đối với các đối tượng xúc ... Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu vị ngọt của các đối tượng pháp. Vị ngọt nào của các đối tượng pháp, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là vị ngọt của các đối tượng pháp, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự nguy hại của các đối tượng pháp. Sự nguy hại nào của các đối tượng pháp, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự nguy hại của các đối tượng pháp, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự xuất ly khỏi các đối tượng pháp. Sự xuất ly nào khỏi các đối tượng pháp, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự xuất ly khỏi các đối tượng pháp, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ.”
Yāvakīvañcāhaṁ, bhikkhave, imesaṁ channaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ assādañca assādato, ādīnavañca ādīnavato, nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nābbhaññāsiṁ …pe… paccaññāsiṁ.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’”ti.
Catutthaṁ.
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào Ta chưa thắng tri đúng như thật về vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly của sáu ngoại xứ này, ... cho đến khi ấy ... (khi đã thắng tri rồi) Ta mới xác nhận. Và tri kiến đã khởi lên nơi Ta rằng: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động, đây là kiếp sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’” (Kinh) thứ tư.