- Saṁyutta Nikāya 35.15
- 2. Yamakavagga
Bản dịch
SN 35.15 — Kinh Tìm Kiếm Vị Ngọt Thứ Nhất
Paṭhamaassādapariyesanasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của mắt. Có vị ngọt nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của mắt. Có nguy hiểm nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Nguy hiểm của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ—kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của mắt. Có xuất ly nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 3-6. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của tai … của mũi … của lưỡi … của thân …
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của ý. Có vị ngọt nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của ý. Có nguy hiểm nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Nguy hiểm của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của ý. Có xuất ly nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 8-9. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là sự xuất ly …
Vi-n 10 Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.15
- 2. Pairs
In Search of Gratification (Interior)
3. Kinh Tìm Kiếm Vị Ngọt Thứ Nhất
“Cakkhussāhaṁ, bhikkhave, assādapariyesanaṁ acariṁ. Yo cakkhussa assādo tadajjhagamaṁ. Yāvatā cakkhussa assādo paññāya me so sudiṭṭho. Cakkhussāhaṁ, bhikkhave, ādīnavapariyesanaṁ acariṁ. Yo cakkhussa ādīnavo tadajjhagamaṁ. Yāvatā cakkhussa ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho. Cakkhussāhaṁ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṁ acariṁ. Yaṁ cakkhussa nissaraṇaṁ tadajjhagamaṁ. Yāvatā cakkhussa nissaraṇaṁ, paññāya me taṁ sudiṭṭhaṁ.
Sotassāhaṁ, bhikkhave … ghānassāhaṁ, bhikkhave … jivhāyāhaṁ bhikkhave, assādapariyesanaṁ acariṁ. Yo jivhāya assādo tadajjhagamaṁ. Yāvatā jivhāya assādo paññāya me so sudiṭṭho. Jivhāyāhaṁ, bhikkhave, ādīnavapariyesanaṁ acariṁ. Yo jivhāya ādīnavo tadajjhagamaṁ. Yāvatā jivhāya ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho. Jivhāyāhaṁ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṁ acariṁ. Yaṁ jivhāya nissaraṇaṁ tadajjhagamaṁ. Yāvatā jivhāya nissaraṇaṁ, paññāya me taṁ sudiṭṭhaṁ …pe… manassāhaṁ, bhikkhave, assādapariyesanaṁ acariṁ. Yo manassa assādo tadajjhagamaṁ. Yāvatā manassa assādo paññāya me so sudiṭṭho. Manassāhaṁ, bhikkhave, ādīnavapariyesanaṁ acariṁ. Yo manassa ādīnavo tadajjhagamaṁ. Yāvatā manassa ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho. Manassāhaṁ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṁ acariṁ. Yaṁ manassa nissaraṇaṁ tadajjhagamaṁ. Yāvatā manassa nissaraṇaṁ, paññāya me taṁ sudiṭṭhaṁ.
“Mendicants, I went in search of the eye’s gratification, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of the eye’s gratification. I went in search of the eye’s drawback, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of the eye’s drawback. I went in search of escape from the eye, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of escape from the eye.
I went in search of the ear’s … nose’s … tongue’s … body’s … mind’s gratification, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of the mind’s gratification. I went in search of the mind’s drawback, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of the mind’s drawback. I went in search of escape from the mind, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of escape from the mind.
15. “Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu vị ngọt của con mắt. Vị ngọt nào của con mắt, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là vị ngọt của con mắt, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự nguy hại của con mắt. Sự nguy hại nào của con mắt, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự nguy hại của con mắt, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự xuất ly khỏi con mắt. Sự xuất ly nào khỏi con mắt, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự xuất ly khỏi con mắt, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta ... đối với cái tai ... Này các Tỳ khưu, Ta ... đối với cái mũi ... Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu vị ngọt của cái lưỡi. Vị ngọt nào của cái lưỡi, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là vị ngọt của cái lưỡi, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự nguy hại của cái lưỡi. Sự nguy hại nào của cái lưỡi, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự nguy hại của cái lưỡi, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự xuất ly khỏi cái lưỡi. Sự xuất ly nào khỏi cái lưỡi, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự xuất ly khỏi cái lưỡi, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu vị ngọt của ý. Vị ngọt nào của ý, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là vị ngọt của ý, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự nguy hại của ý. Sự nguy hại nào của ý, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự nguy hại của ý, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã thực hành việc tìm cầu sự xuất ly khỏi ý. Sự xuất ly nào khỏi ý, Ta đã đạt được điều ấy. Cho đến mức độ nào là sự xuất ly khỏi ý, điều ấy đã được Ta khéo thấy bằng trí tuệ.”
Yāvakīvañcāhaṁ, bhikkhave, imesaṁ channaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ assādañca assādato, ādīnavañca ādīnavato, nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nābbhaññāsiṁ …pe…
paccaññāsiṁ.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’”ti.
Tatiyaṁ.
As long as I didn’t truly understand these six interior sense fields’ gratification, drawback, and escape for what they are, I didn’t announce my supreme perfect awakening …
But when I did truly understand …
Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’”
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào Ta chưa thắng tri đúng như thật về vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly của sáu nội xứ này, ... cho đến khi ấy ... (khi đã thắng tri rồi) Ta mới xác nhận. Và tri kiến đã khởi lên nơi Ta rằng: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động, đây là kiếp sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’” (Kinh) thứ ba.