- Saṁyutta Nikāya 35.153
- 15. Navapurāṇavagga
Bản dịch
SN 35.153 — Kinh Có Phương Pháp Chăng
Atthinukhopariyāyasutta
Vi-n 3 —Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 5 —Có một pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận … trạng thái này nữa”.
Vi-n 6 Pháp môn ấy là gì, do pháp môn ấy … “ … không còn trở lui trạng thái này nữa”?
Vi-n 7 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
—Thưa phải, bạch Thế Tôn.
—Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn này, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 8-11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc …
Vi-n 12 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc biết rõ nội tâm có tham, sân, si: “Nội tâm ta có tham, sân, si”, hoặc biết rõ nội tâm không có tham, sân, si: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, sự biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
—Thưa phải, bạch Thế Tôn.
Vi-n 13 —Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp môn, hay ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.153
- 15. The Old and the New
Is There a Method?
8. Kinh Có Phương Pháp Chăng
“Atthi nu kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākareyya: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā, bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“atthi, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākareyya: ‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti.
“Mendicants, is there a method—apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation—that a mendicant can rely on to declare their enlightenment? That is: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’”
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
“There is a method—apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation—that a mendicant can rely on to declare their enlightenment. That is: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’
153. “Này các Tỳ khưu, có phương pháp nào chăng, mà nương vào phương pháp ấy, một vị Tỳ khưu, ngoài tín, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét về các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi thẩm sát một quan điểm, có thể tuyên bố sự chứng ngộ như sau: ‘Ta biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’?” “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con có Thế Tôn là gốc rễ, có Thế Tôn là người hướng dẫn, có Thế Tôn là nơi nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn có thể làm sáng tỏ ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, này các Tỳ khưu, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: “Này các Tỳ khưu, có phương pháp, mà nương vào phương pháp ấy, một vị Tỳ khưu, ngoài tín, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét về các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi thẩm sát một quan điểm, có thể tuyên bố sự chứng ngộ như sau: ‘Ta biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’.”
Katamo ca, bhikkhave, pariyāyo, yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya …pe… aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti. Yaṁ taṁ, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti. Api nu me, bhikkhave, dhammā saddhāya vā veditabbā, ruciyā vā veditabbā, anussavena vā veditabbā, ākāraparivitakkena vā veditabbā, diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā veditabbā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ayaṁ kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti: ‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti …pe….
And what is that method? Take a mendicant who sees a sight with their eyes. When they have greed, hate, and delusion in them, they understand ‘I have greed, hate, and delusion in me.’ When they don’t have greed, hate, and delusion in them, they understand ‘I don’t have greed, hate, and delusion in me.’ Since this is so, are these things understood by faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation?”
“No, sir.”
“Aren’t they understood by seeing them with wisdom?”
“Yes, sir.”
“This is a method—apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation—that a mendicant can rely on to declare their enlightenment. That is: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’
“Và này các Tỳ khưu, phương pháp ấy là gì, mà nương vào đó, một vị Tỳ khưu, ngoài tín... ngoài sự chấp nhận sau khi thẩm sát một quan điểm, tuyên bố sự chứng ngộ như sau: ‘Ta biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu, sau khi thấy một sắc bằng mắt, nếu có tham, sân, si nội tại, vị ấy biết rõ: ‘Có tham, sân, si nội tại trong ta’; hoặc nếu không có tham, sân, si nội tại, vị ấy biết rõ: ‘Không có tham, sân, si nội tại trong ta’. Này các Tỳ khưu, việc một vị Tỳ khưu, sau khi thấy một sắc bằng mắt, biết rõ: ‘Có tham, sân, si nội tại trong ta’ khi nó có mặt, hoặc biết rõ: ‘Không có tham, sân, si nội tại trong ta’ khi nó không có mặt—này các Tỳ khưu, những pháp này có phải được biết đến qua tín, hay qua sở thích, hay qua sự truyền tụng, hay qua sự suy xét về các khía cạnh, hay qua sự chấp nhận sau khi thẩm sát một quan điểm chăng?” “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” “Này các Tỳ khưu, không phải những pháp này được biết đến sau khi thấy bằng trí tuệ sao?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Này các Tỳ khưu, đây chính là phương pháp, mà nương vào đó, một vị Tỳ khưu, ngoài tín, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét về các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi thẩm sát một quan điểm, tuyên bố sự chứng ngộ như sau: ‘Ta biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’.”...v.v...
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā santaṁ vā ajjhattaṁ …pe… rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti. Yaṁ taṁ, bhikkhave, jivhāya rasaṁ sāyitvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; api nu me, bhikkhave, dhammā saddhāya vā veditabbā, ruciyā vā veditabbā, anussavena vā veditabbā, ākāraparivitakkena vā veditabbā, diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā veditabbā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti? “Evaṁ, bhante”. “Ayampi kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti: ‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti …pe….
Furthermore, a mendicant hears a sound … smells an odor … tastes a flavor … encounters a touch …
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sau khi nếm vị bằng lưỡi, tuệ tri rằng: ‘Tham, sân, si có mặt ở nội tâm’... v.v... hoặc tuệ tri rằng: ‘Tham, sân, si không có mặt ở nội tâm’. Này các tỳ khưu, việc vị ấy sau khi nếm vị bằng lưỡi, tuệ tri rằng: ‘Tham, sân, si có mặt ở nội tâm’, hoặc tuệ tri rằng: ‘Tham, sân, si không có mặt ở nội tâm’; này các tỳ khưu, những pháp này có phải được biết đến do đức tin, do sở thích, do nghe theo truyền thống, do suy luận về các hình thái, hay do chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc không?” “Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.” “Này các tỳ khưu, chẳng phải những pháp này được biết đến sau khi thấy bằng trí tuệ sao?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Này các tỳ khưu, đây cũng là phương pháp mà nương vào đó, vị tỳ khưu, ngoài đức tin, ngoài sở thích, ngoài việc nghe theo truyền thống, ngoài sự suy luận về các hình thái, ngoài việc chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, tuyên bố chánh trí rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi tuệ tri như vậy’... v.v...”
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ayampi kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti: ‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti.
Aṭṭhamaṁ.
“No, sir.”
“Aren’t they understood by seeing them with wisdom?”
“Yes, sir.”
“This too is a method—apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation—that a mendicant can rely on to declare their enlightenment. That is: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’”
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sau khi nhận biết pháp bằng ý, tuệ tri rằng: ‘Tham, sân, si có mặt ở nội tâm’, hoặc tuệ tri rằng: ‘Tham, sân, si không có mặt ở nội tâm’. Này các tỳ khưu, việc vị ấy sau khi nhận biết pháp bằng ý, tuệ tri rằng: ‘Tham, sân, si có mặt ở nội tâm’, hoặc tuệ tri rằng: ‘Tham, sân, si không có mặt ở nội tâm’; này các tỳ khưu, những pháp này có phải được biết đến do đức tin, do sở thích, do nghe theo truyền thống, do suy luận về các hình thái, hay do chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc không?” “Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.” “Này các tỳ khưu, chẳng phải những pháp này được biết đến sau khi thấy bằng trí tuệ sao?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Này các tỳ khưu, đây cũng là phương pháp mà nương vào đó, vị tỳ khưu, ngoài đức tin, ngoài sở thích, ngoài việc nghe theo truyền thống, ngoài sự suy luận về các hình thái, ngoài việc chấp nhận quan điểm sau khi cân nhắc, tuyên bố chánh trí rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi tuệ tri như vậy’.” Kinh thứ tám.