- Saṁyutta Nikāya 35.150
- 15. Navapurāṇavagga
Bản dịch
SN 35.150 — Kinh Con Đường Thích Hợp Với Niết Bàn
Nibbānasappāyapaṭipadāsutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về con đường thích ứng với Niết-bàn. Hãy lắng nghe … Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích ứng với Niết-bàn?
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn …
(Như kinh 32)
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.150
- 15. The Old and the New
A Practice Conducive to Extinguishment
5. Kinh Con Đường Thích Hợp Với Niết Bàn
“Nibbānasappāyaṁ vo, bhikkhave, paṭipadaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha …pe…
katamā ca sā, bhikkhave, nibbānasappāyā paṭipadā?
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Mendicants, I will teach you a practice that’s conducive to extinguishment. Listen …
And what is that practice that’s conducive to extinguishment?
What do you think, mendicants? Is the eye permanent or impermanent?”
150. Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về con đường thực hành thích hợp với Niết-bàn. Hãy lắng nghe... cho đến... Này các Tỳ khưu, thế nào là con đường thực hành thích hợp với Niết-bàn? Này các Tỳ khưu, các ngươi nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bạch Thế Tôn, là vô thường.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bạch Thế Tôn, là khổ.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ hay không?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bạch Thế Tôn, điều ấy không thích hợp.
“Rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
“Are sights …
Các sắc là thường hay vô thường?
Bạch Thế Tôn, là vô thường. ... vân vân...
yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
The pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on mind contact: is that permanent or impermanent?”
Nhãn thức... nhãn xúc... ... vân vân... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, hoặc là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là thường hay vô thường?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bạch Thế Tôn, là vô thường.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bạch Thế Tôn, là khổ.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ hay không?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bạch Thế Tôn, điều ấy không thích hợp.
“Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati …pe…
yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Ayaṁ kho sā, bhikkhave, nibbānasappāyā paṭipadā”ti.
Pañcamaṁ.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on eye contact.
They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on mind contact. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. …
They understand: ‘… there is nothing further for this place.’
This is that practice that’s conducive to extinguishment.”
Này các tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc... ... vân vân... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, hoặc là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, vị ấy cũng nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. ... vân vân... vị ấy biết rõ rằng: ‘... không còn gì khác cho trạng thái này nữa.’ Này các tỳ khưu, đây chính là con đường thực hành thích hợp với Niết Bàn. (Kinh thứ năm)