- Saṁyutta Nikāya 35.140
- 14. Devadahavagga
Bản dịch
SN 35.140 — Kinh Nguyên Nhân Vô Thường (Nội)
Ajjhattaaniccahetusutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, mắt là vô thường. Do nhân gì, do duyên gì khiến mắt khởi lên, cái ấy cũng vô thường. Này các Tỷ-kheo, mắt do nhân vô thường khởi lên, từ đâu sẽ thường còn được?
Vi-n 4-7. … tai … mũi … lưỡi … thân …
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, ý là vô thường. Do nhân gì, do duyên gì khiến ý khởi lên, cái ấy cũng vô thường. Này các Tỷ-kheo, ý do nhân vô thường khởi lên, từ đâu có thể thường được?
Vi-n 9 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham … “ … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.140
- 14. At Devadaha
Interior and Cause Are Impermanent
7. Kinh Nguyên Nhân Vô Thường (Nội)
“Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ. Yopi hetu, yopi paccayo cakkhussa uppādāya, sopi anicco. Aniccasambhūtaṁ, bhikkhave, cakkhu kuto niccaṁ bhavissati …pe…
jivhā aniccā. Yopi hetu, yopi paccayo jivhāya uppādāya sopi anicco. Aniccasambhūtā, bhikkhave, jivhā kuto niccā bhavissati …pe… mano anicco. Yopi, bhikkhave, hetu yopi paccayo manassa uppādāya, sopi anicco. Aniccasambhūto, bhikkhave, mano kuto nicco bhavissati.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati …pe… jivhāyapi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati, nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, the eye is impermanent. The cause and reason that gives rise to the eye is also impermanent. Since the eye is produced by what is impermanent, how could it be permanent?
The ear … nose … tongue … body … mind is impermanent. The cause and reason that gives rise to the mind is also impermanent. Since the mind is produced by what is impermanent, how could it be permanent?
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
140. “Này các Tỳ-khưu, mắt là vô thường. Bất cứ nhân nào, duyên nào cho mắt sanh khởi, nhân ấy, duyên ấy cũng vô thường. Này các Tỳ-khưu, mắt được sanh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường hằng được? ... Lưỡi là vô thường. Bất cứ nhân nào, duyên nào cho lưỡi sanh khởi, nhân ấy, duyên ấy cũng vô thường. Này các Tỳ-khưu, lưỡi được sanh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường hằng được? ... Ý là vô thường. Này các Tỳ-khưu, bất cứ nhân nào, duyên nào cho ý sanh khởi, nhân ấy, duyên ấy cũng vô thường. Này các Tỳ-khưu, ý được sanh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường hằng được! Thấy vậy, này các Tỳ-khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều nhàm chán đối với mắt... nhàm chán đối với lưỡi... Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’” Kinh thứ bảy.