- Saṁyutta Nikāya 35.133
- 13. Gahapativagga
Bản dịch
SN 35.133 — Kinh Verahaccāni
Verahaccānisutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Udāyi trú ở Kàmandàya, tại vườn xoài của Bà-la-môn Todeyya.
Vi-n 2 Rồi một đệ tử thanh niên của nữ Bà-la-môn, thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udāyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Udāyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn ấy đang ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Rồi thanh niên ấy, sau khi được Tôn giả Udāyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:
—Mong nữ Tôn giả biết cho, Sa-môn Udāyi thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh.
Vi-n 5 —Vậy này Thanh niên, hãy nhân danh ta, mời Sa-môn Udāyi ngày mai đến dùng cơm.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến thưa với Tôn giả Udāyi:
—Tôn giả Udāyi, hãy nhận đạo sư phí của chúng tôi là buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.
Tôn giả Udāyi im lặng nhận lời.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Udāyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 7 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udāyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Vi-n 8 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni sau khi thấy Tôn giả Udāyi đã dùng cơm xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền mang dép, ngồi trên chỗ ngồi cao, trùm đầu, và thưa với Tôn giả Udāyi:
—Này Sa-môn, hãy thuyết pháp.
—Này Chị, thời gian ấy sẽ đến.
Nói xong, Tôn giả Udāyi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 9 Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Udāyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Udāyi với lời pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn đang ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy sau khi được Tôn giả Udāyi với pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:
—Nữ Tôn giả hãy biết, Sa-môn Udāyi thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.
Vi-n 11 —Như vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, Ông nói lời tán thán Sa-môn Udāyi. Nhưng Sa-môn Udāyi khi được nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, sau khi trả lời: “Này Chị, thời ấy sẽ đến”, từ chỗ ngồi đứng dậy, và đi về tịnh xá.
Vi-n 12 —Thưa nữ Tôn giả, vì rằng nữ Tôn giả đã đi dép, ngồi trên chỗ cao, trùm đầu và nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, các bậc Tôn giả ấy cung kính pháp, tôn trọng pháp.
Vi-n 13 —Vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, hãy nhân danh ta, ngày mai mời Sa-môn Udāyi đến dùng cơm.
—Thưa vâng, nữ Tôn giả.
Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udāyi:
—Tôn giả Udāyi, hãy chấp nhận đạo sư phí của chúng tôi là buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.
Tôn giả Udāyi im lặng nhận lời.
Vi-n 14 Rồi Tôn giả Udāyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 15 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udāyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Vi-n 16 Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, sau khi thấy Tôn giả ăn xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền cởi dép, ngồi trên chỗ ngồi thấp, cởi khăn trùm đầu, rồi thưa Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả, do cái gì hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về lạc khổ? Do cái gì không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ?
Vi-n 17 —Này Chị, do mắt hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do mắt không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ … Do ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do ý không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ.
Vi-n 18 Khi được nói vậy, nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Udāyi dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay, thưa Tôn giả Udāyi, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Tôn giả Udāyi nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.133
- 13. Householders
Verahaccāni
10. Kinh Verahaccāni
Ekaṁ samayaṁ āyasmā udāyī kāmaṇḍāyaṁ viharati todeyyassa brāhmaṇassa ambavane.
Atha kho verahaccānigottāya brāhmaṇiyā antevāsī māṇavako yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā udāyinā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ māṇavakaṁ āyasmā udāyī dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho so māṇavako āyasmatā udāyinā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā yena verahaccānigottā brāhmaṇī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā verahaccānigottaṁ brāhmaṇiṁ etadavoca: “yagghe, bhoti, jāneyyāsi. Samaṇo udāyī dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetī”ti.
At one time Venerable Udāyī was staying near Kāmaṇḍā in the brahmin Todeyya’s mango grove.
Then a boy who was a pupil of the brahmin lady of the Verahaccāni clan went up to Udāyī and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. Udāyī educated, encouraged, fired up, and inspired that young student with a Dhamma talk.
Then that young student went to the brahmin lady of the Verahaccāni clan and said to her, “Please, madam, you should know this. The ascetic Udāyī teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.”
133. Một thời, Tôn giả Udāyī trú ở Kāmaṇḍā, trong vườn xoài của Bà-la-môn Todeyya. Lúc bấy giờ, một thanh niên, đệ tử của nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni, đi đến chỗ Tôn giả Udāyī; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Udāyī nói lên những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, vị ấy ngồi xuống một bên. Tôn giả Udāyī đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ người thanh niên đang ngồi một bên ấy. Rồi người thanh niên ấy, sau khi được Tôn giả Udāyī dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni; sau khi đến, đã nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni điều này: ‘Thưa bà, mong bà biết cho! Sa-môn Udāyī thuyết một bài pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.’
“Tena hi tvaṁ, māṇavaka, mama vacanena samaṇaṁ udāyiṁ nimantehi svātanāya bhattenā”ti.
“Evaṁ, bhotī”ti kho so māṇavako verahaccānigottāya brāhmaṇiyā paṭissutvā yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “adhivāsetu kira, bhavaṁ udāyī amhākaṁ ācariyabhariyāya verahaccānigottāya brāhmaṇiyā svātanāya bhattan”ti. Adhivāsesi kho āyasmā udāyī tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā udāyī tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena verahaccānigottāya brāhmaṇiyā nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ pādukā ārohitvā ucce āsane nisīditvā sīsaṁ oguṇṭhitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “bhaṇa, samaṇa, dhamman”ti.
“Bhavissati, bhagini, samayo”ti vatvā uṭṭhāyāsanā pakkami.
“Then, young student, invite him in my name for tomorrow’s meal.”
“Yes, madam,” he replied. He went to Udāyī and said, “Would Worthy Udāyī please accept an offering of tomorrow’s meal from my tutor’s wife, the brahmin lady of the Verahaccāni clan?” Udāyī consented with silence.
Then when the night had passed, Udāyī robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the brahmin lady’s home, and sat down on the seat spread out. Then the brahmin lady served and satisfied Udāyī with her own hands with delicious fresh and cooked foods.
When Udāyī had eaten and washed his hand and bowl, she put on a pair of slippers, sat on a high seat, covered her head, and said to him, “Ascetic, preach the Dhamma.”
“There will be an occasion for that, sister,” he replied, then rose from his seat and left.
‘Vậy thì này thanh niên, ngươi hãy nhân danh ta, thỉnh Sa-môn Udāyī dùng bữa vào ngày mai.’ ‘Vâng, thưa bà.’ Người thanh niên ấy vâng lời nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni, đi đến chỗ Tôn giả Udāyī; sau khi đến, đã nói với Tôn giả Udāyī điều này: ‘Thưa Tôn giả Udāyī, mong Tôn giả hãy nhận lời mời dùng bữa vào ngày mai của phu nhân vị thầy của chúng con, nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni.’ Tôn giả Udāyī đã im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Udāyī, sau khi đêm ấy đã qua, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni; sau khi đến, ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni đã tự tay dâng cúng và thỉnh mời Tôn giả Udāyī dùng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi ngài hài lòng. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni, khi biết Tôn giả Udāyī đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, bèn mang dép, ngồi trên một chỗ ngồi cao, trùm kín đầu, và nói với Tôn giả Udāyī điều này: ‘Này Sa-môn, hãy thuyết pháp đi.’ ‘Này chị, sẽ có lúc thích hợp.’ Nói vậy xong, Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
Dutiyampi kho so māṇavako yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā udāyinā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ māṇavakaṁ āyasmā udāyī dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Dutiyampi kho so māṇavako āyasmatā udāyinā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā yena verahaccānigottā brāhmaṇī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā verahaccānigottaṁ brāhmaṇiṁ etadavoca: “yagghe, bhoti, jāneyyāsi. Samaṇo udāyī dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetī”ti.
For a second time that young student went to Venerable Udāyī …
And for a second time that young student went to the brahmin lady of the Verahaccāni clan …
Lần thứ hai, thanh niên ấy lại đi đến chỗ Tôn giả Udāyī; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Udāyī nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Udāyī đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên ấy đang ngồi một bên. Lần thứ hai, thanh niên ấy, sau khi được Tôn giả Udāyī dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni; sau khi đến, đã nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni điều này: ‘Thưa bà, mong bà biết cho! Sa-môn Udāyī thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.’
“Evamevaṁ pana tvaṁ, māṇavaka, samaṇassa udāyissa vaṇṇaṁ bhāsasi. Samaṇo panudāyī ‘bhaṇa, samaṇa, dhamman’ti vutto samāno ‘bhavissati, bhagini, samayo’ti vatvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti.
“Tathā hi pana tvaṁ, bhoti, pādukā ārohitvā ucce āsane nisīditvā sīsaṁ oguṇṭhitvā etadavoca: ‘bhaṇa, samaṇa, dhamman’ti. Dhammagaruno hi te bhavanto dhammagāravā”ti.
“Tena hi tvaṁ, māṇavaka, mama vacanena samaṇaṁ udāyiṁ nimantehi svātanāya bhattenā”ti.
“Evaṁ, bhotī”ti kho so māṇavako verahaccānigottāya brāhmaṇiyā paṭissutvā yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “adhivāsetu kira bhavaṁ udāyī amhākaṁ ācariyabhariyāya verahaccānigottāya brāhmaṇiyā svātanāya bhattan”ti. Adhivāsesi kho āyasmā udāyī tuṇhībhāvena.
She said to him, “You keep praising the ascetic Udāyī like this. But when I asked him to preach the Dhamma he just said that there would be an occasion for that, and then he got up and left.”
“Madam, that’s because you put on a pair of slippers, sat on a high seat, and covered your head before inviting him to teach. For the good sirs respect the teaching.”
“Then, young student, invite him in my name for tomorrow’s meal.”
“Yes, madam,” he replied. …
‘Này thanh niên, ngươi đã nói lên lời tán thán Sa-môn Udāyī như vậy. Nhưng Sa-môn Udāyī, khi được nói: ‘Thưa Sa-môn, hãy thuyết Pháp,’ đã nói rằng: ‘Này chị, sẽ có thời thích hợp,’ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và bỏ đi.’ ‘Thưa bà, đó là vì bà đã mang dép, ngồi trên ghế cao, trùm kín đầu và nói rằng: ‘Thưa Sa-môn, hãy thuyết Pháp.’ Quả thật, các bậc Tôn giả ấy kính trọng Pháp, tôn sùng Pháp.’ ‘Vậy thì, này thanh niên, ngươi hãy nhân danh ta, thỉnh mời Sa-môn Udāyī dùng bữa vào ngày mai.’ ‘Vâng, thưa bà.’ Thanh niên ấy đã vâng lời nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni, rồi đi đến chỗ Tôn giả Udāyī; sau khi đến, đã nói với Tôn giả Udāyī điều này: ‘Xin Tôn giả Udāyī hãy nhận lời mời dùng bữa vào ngày mai của phu nhân vị thầy chúng tôi, nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni.’ Tôn giả Udāyī đã im lặng nhận lời.
Atha kho āyasmā udāyī tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena verahaccānigottāya brāhmaṇiyā nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ pādukā orohitvā nīce āsane nisīditvā sīsaṁ vivaritvā āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “kismiṁ nu kho, bhante, sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, kismiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapentī”ti?
Then the brahmin lady served and satisfied Udāyī with her own hands with delicious fresh and cooked foods.
When Udāyī had eaten and washed his hand and bowl, she took off her slippers, sat on a low seat, uncovered her head, and said to him, “Sir, when what exists do the perfected ones assert that there is pleasure and pain? When what doesn’t exist do the perfected ones not declare that there is pleasure and pain?”
Rồi Tôn giả Udāyī, sau khi đêm ấy đã qua, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni; sau khi đến, đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni đã tự tay dâng cúng và làm cho Tôn giả Udāyī thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni, khi biết Tôn giả Udāyī đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, bèn cởi dép, ngồi xuống một chỗ thấp, mở khăn trùm đầu ra, và nói với Tôn giả Udāyī điều này: ‘Thưa Tôn giả, khi có cái gì, các bậc A-la-hán chế định khổ và lạc? Và khi không có cái gì, các bậc A-la-hán không chế định khổ và lạc?’
“Cakkhusmiṁ kho, bhagini, sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, cakkhusmiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapenti …pe… jivhāya sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, jivhāya asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapenti …pe…. Manasmiṁ sati arahanto sukhadukkhaṁ paññapenti, manasmiṁ asati arahanto sukhadukkhaṁ na paññapentī”ti.
“Sister, when there’s an eye, the perfected ones assert that there is pleasure and pain. When there’s no eye, the perfected ones don’t declare that there is pleasure and pain. When there’s an ear … nose … tongue … body … mind, the perfected ones assert that there is pleasure and pain. When there’s no mind, the perfected ones don’t declare that there is pleasure and pain.”
‘Này chị, khi có con mắt, các bậc A-la-hán chế định khổ và lạc; khi không có con mắt, các bậc A-la-hán không chế định khổ và lạc. …v.v… Khi có cái lưỡi, các bậc A-la-hán chế định khổ và lạc; khi không có cái lưỡi, các bậc A-la-hán không chế định khổ và lạc. …v.v… Khi có ý, các bậc A-la-hán chế định khổ và lạc; khi không có ý, các bậc A-la-hán không chế định khổ và lạc.’
Evaṁ vutte, verahaccānigottā brāhmaṇī āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ ayyena udāyinā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, ayya udāyi, taṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsikaṁ maṁ ayyo udāyī dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dasamaṁ.
When he said this, the brahmin lady said to Udāyī, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, Master Udāyī has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may Master Udāyī remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, nữ Bà-la-môn thuộc dòng dõi Verahaccāni đã nói với Tôn giả Udāyī điều này: ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả! Thật vi diệu, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, cũng như người ta có thể lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, giáo pháp đã được Tôn giả Udāyī tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Con đây, thưa Tôn giả Udāyī, xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng Tỳ-khưu. Mong Tôn giả Udāyī ghi nhận con là một nữ cận sự đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’ Hết phẩm thứ mười.
Gahapativaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Gia Chủ, thứ ba.
Vesālī vajji nāḷandā, Bhāradvāja soṇo ca ghosito; Hāliddiko nakulapitā, Lohicco verahaccānīti.
Vesālī, Vajjī, Nāḷandā, Bhāradvāja, và Soṇa, Ghosita; Hāliddika, Nakulapitā, Lohicca, và Verahaccāni.