- Saṁyutta Nikāya 35.134
- 14. Devadahavagga
Bản dịch
SN 35.134 — Kinh Devadaha
Devadahasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka, tên là Devadaha.
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí; thời này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?
Vi-n 4 Vì các vị ấy đã hành trì không phóng dật, đến nỗi họ không thể trở thành phóng dật.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, còn những Tỷ-kheo nào còn là hữu học, sở nguyện chưa thành đạt, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; thời này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng họ cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không có cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy. Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Vi-n 7-10. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức … có những hương do mũi nhận thức … có những vị do lưỡi nhận thức … có những xúc do thân nhận thức …
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.134
- 14. At Devadaha
At Devadaha
1. Kinh Devadaha
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati devadahaṁ nāma sakyānaṁ nigamo. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“nāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi, na ca panāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu nāppamādena karaṇīyanti vadāmi.
Ye te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu nāppamādena karaṇīyanti vadāmi. Taṁ kissa hetu?
Kataṁ tesaṁ appamādena, abhabbā te pamajjituṁ.
Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū sekkhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, tesāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi. Taṁ kissa hetu?
Santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā manoramāpi, amanoramāpi. Tyāssa phussa phussa cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso apariyādānā āraddhaṁ hoti vīriyaṁ asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ. Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, appamādaphalaṁ sampassamāno tesaṁ bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi …pe…
santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā manoramāpi amanoramāpi. Tyāssa phussa phussa cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso apariyādānā āraddhaṁ hoti vīriyaṁ asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ. Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, appamādaphalaṁ sampassamāno tesaṁ bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmī”ti.
Paṭhamaṁ.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near the Sakyan town named Devadaha. There the Buddha addressed the mendicants:
“When it comes to the six fields of contact, mendicants, I don’t say that all mendicants have work to do with diligence, nor do I say that none of them have work to do with diligence.
I say that, when it comes to the six fields of contact, mendicants don’t have work to do with diligence if they are perfected, with defilements ended, having completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and become rightly freed through enlightenment. Why is that?
They’ve done their work with diligence, and are incapable of negligence.
I say that, when it comes to the six fields of contact, mendicants do have work to do with diligence if they are trainees, who haven’t achieved their heart’s desire, but live aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. Why is that?
There are sights known by the eye that are pleasant and also those that are unpleasant. Though experiencing them again and again they don’t occupy the mind. Their energy is roused up and unflagging, their mindfulness is established and lucid, their body is tranquil and undisturbed, and their mind is immersed and unified in samādhi. Seeing this fruit of diligence, I say that those mendicants have work to do with diligence when it comes to the six fields of contact. …
There are ideas known by the mind that are pleasant and also those that are unpleasant. Though experiencing them again and again they don’t occupy the mind. Their energy is roused up and unflagging, their mindfulness is established and lucid, their body is tranquil and undisturbed, and their mind is immersed and unified in samādhi. Seeing this fruit of diligence, I say that those mendicants have work to do with diligence when it comes to the six fields of contact.”
134. Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Sakka, tại một thị trấn của dòng họ Sakya tên là Devadaha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: "Này các Tỳ khưu, Ta không nói rằng tất cả các Tỳ khưu cần phải không dể duôi đối với sáu xứ xúc. Và này các Tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng tất cả các Tỳ khưu không cần phải không dể duôi đối với sáu xứ xúc. Này các Tỳ khưu, đối với những vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận trừ các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí; này các Tỳ khưu, đối với những vị Tỳ khưu ấy, Ta nói rằng không cần phải không dể duôi đối với sáu xứ xúc. Vì sao vậy? Vì họ đã hoàn thành việc không dể duôi, họ không có khả năng dể duôi. Còn này các Tỳ khưu, đối với những vị Tỳ khưu là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống với ước nguyện đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược; này các Tỳ khưu, đối với những vị Tỳ khưu ấy, Ta nói rằng cần phải không dể duôi đối với sáu xứ xúc. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, có những sắc pháp khả ý và không khả ý được nhận biết qua mắt. Những sắc pháp ấy, sau khi tiếp xúc, không chiếm lĩnh và tồn tại trong tâm của vị ấy. Do tâm không bị chiếm lĩnh, tinh tấn được khởi lên, không thụ động; niệm được an trú, không xao lãng; thân được khinh an, không bứt rứt; tâm được định tĩnh, nhất tâm. Này các Tỳ khưu, vì thấy được quả báu này của sự không dể duôi, Ta nói rằng đối với những vị Tỳ khưu ấy, cần phải không dể duôi đối với sáu xứ xúc. ... Tương tự ... Này các Tỳ khưu, có những pháp khả ý và không khả ý được nhận biết qua ý. Những pháp ấy, sau khi tiếp xúc, không chiếm lĩnh và tồn tại trong tâm của vị ấy. Do tâm không bị chiếm lĩnh, tinh tấn được khởi lên, không thụ động; niệm được an trú, không xao lãng; thân được khinh an, không bứt rứt; tâm được định tĩnh, nhất tâm. Này các Tỳ khưu, vì thấy được quả báu này của sự không dể duôi, Ta nói rằng đối với những vị Tỳ khưu ấy, cần phải không dể duôi đối với sáu xứ xúc." (Kinh thứ nhất).