- Saṁyutta Nikāya 35.132
- 13. Gahapativagga
Bản dịch
SN 35.132 — Kinh Lohicca
Lohiccasutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Mahà Kaccāna trú ở giữa dân chúng Avanti, tại Makkarakata, tại một chòi lá trong rừng.
Vi-n 2 Rồi một số đông đệ tử của Bà-la-môn Lohicca, là những thanh niên lượm củi, đi đến chòi lá trong rừng của Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đến, đi qua đi lại, đi vòng quanh chòi lá, cao tiếng, lớn tiếng, và làm đủ loại trò chơi nghịch ngợm: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân này, lại được các kẻ nô tì khuân vác cung kính, tôn trọng, cúng dường, lễ bái”.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Mahà Kaccāna từ trong nhà bước ra và nói với các thanh niên ấy:
—Này các Thanh niên, chớ có làm ồn. Ta sẽ thuyết pháp cho các Ông.
Khi nghe nói vậy, các thanh niên đều im lặng.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Mahà Kaccāna nói lên những bài kệ với các thanh niên ấy:
Vi-n 1~1 Những bậc cổ nhân xưa,
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Các căn được hộ trì,
Ðược khéo léo chế ngự,
Họ nhiếp phục đoạn tận
Mọi tức giận phẫn nộ.Vi-n 2~2 Họ hân hoan trong pháp,
Họ hân hoan trong Thiền,
Họ là Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Còn kẻ trốn luật này,
Chỉ lắp bắp tụng đọc,
Say mê trong giai cấp,
Họ bước đi khập khểnh.Vi-n 3~3 Bị phẫn nộ nhiếp phục,
Dùng nhiều loại gậy gộc,
Họ rơi vào nguy hại,
Giữa kẻ tham, bậc Thánh,
Rỗng không là giới cấm,
Khi căn không chế ngự,
Như người được tài sản,
Trong cơn mộng nằm mơ.Vi-n 4~4 Không ăn, quyết nhịn đói,
Nằm ngủ trên đất trần,
Sáng dậy, tắm sạch tội,
Tụng đọc ba Vệ-đà,
Mặc da thú thô cứng,
Bện tóc, da dính bùn,
Tụng đọc các thần chú,
Giới cấm thủ, khổ hạnh.Vi-n 5~5 Giả dối và lừa đảo,
Sử dụng các gậy gộc,
Dùng nước để tắm rửa,
Dùng nước để súc miệng,
Ðó là những sắc tướng,
Các hàng Bà-la-môn,
Họ làm và thực hiện,
Mong hưởng những lợi nhỏ.Vi-n 6~6 Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.
Vi-n 5 Rồi các thanh niên ấy, tức giận và không vui, đi đến Bà-la-môn Lohicca; sau khi đến, thưa với Bà-la-môn Lohicca:
—Mong Tôn giả biết rằng, Sa-môn Mahà Kaccāna đang một mạch chỉ trích và mạ lị thần chú của các Bà-la-môn.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Lohicca tức giận và không vui.
Vi-n 6 Rồi Bà-la-môn Lohicca suy nghĩ: “Thật không thích đáng cho ta khi ta nghe một mình các thanh niên Bà-la-môn, rồi phỉ báng và công kích Sa-môn Mahà Kaccāna. Vậy, ta hãy đi đến và hỏi vị ấy”.
Vi-n 7 Rồi Bà-la-môn Lohicca cùng với các thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Lohicca nói với Tôn giả Mahà Kaccāna:
—Tôn giả Kaccāna, có phải có một số đông đệ tử của chúng tôi, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi đã đến đây?
—Này Bà-la-môn, một số đông đệ tử của Ông, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi có đến tại đây.
—Thưa Tôn giả Kaccāna, Tôn giả có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy không?
—Này Bà-la-môn, tôi có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy.
—Như thế nào là câu chuyện giữa Tôn giả Kaccāna với những thanh niên Bà-la-môn ấy?
—Này Bà-la-môn, như thế nầy là câu chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy:
Vi-n 1~7 Những bậc cổ nhân xưa
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn
Ghi nhớ các cổ luật.2–5) …
Vi-n 6~8 Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.
Như vậy, này Bà-la-môn, là cuộc nói chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy.
Vi-n 9 —Tôn giả Kaccāna có nói đến hộ trì các căn. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccāna, là hộ trì các căn?
Vi-n 10 —Ở đây, này Bà-la-môn, có người sau khi mắt thấy sắc, có tâm hướng đến các sắc khả ái, có tâm ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 11-14. … sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương … sau khi lưỡi nếm vị … sau khi thân cảm xúc …
Vi-n 15 … sau khi ý biết các pháp, tâm hướng đến các pháp khả ái, tâm ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 16 Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn không có hộ trì.
Vi-n 17 —Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccāna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccāna, cách thức Tôn giả Kaccāna đã định nghĩa các căn không hộ trì. Các căn có hộ trì, các căn có hộ trì, Tôn giả Kaccāna đã nói như vậy; cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccāna, là các căn có hộ trì?
Vi-n 18 —Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, tâm không hướng đến các sắc khả ái, tâm không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 19-22. … sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương … sau khi lưỡi nếm vị … sau khi thân cảm xúc …
Vi-n 23 … sau khi ý nhận biết các pháp, tâm không hướng đến các pháp khả ái, tâm không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 24 Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn được hộ trì.
Vi-n 25 —Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccāna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccāna, cách thức Tôn giả Kaccāna đã định nghĩa các căn được hộ trì. Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccāna! Thưa Tôn giả Kaccāna, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt được thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Kaccāna dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay, thưa Tôn giả Kaccāna, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Kaccāna hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng. Và như Tôn giả Kaccāna đi đến viếng các gia đình cư sĩ, cũng vậy, cũng vậy, mong Tôn giả Kaccāna hãy đến viếng các gia đình Lohicca. Tại đấy, các thanh niên và thanh nữ sẽ đảnh lễ Tôn giả Kaccāna, sẽ soạn chỗ ngồi, hay cúng dường nước cho Tôn giả Kaccāna, và như vậy, họ sẽ được hạnh phúc, an lạc trong một thời gian dài.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.132
- 13. Householders
With Lohicca
9. Kinh Lohicca
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati makkarakate araññakuṭikāyaṁ.
Atha kho lohiccassa brāhmaṇassa sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā yenāyasmato mahākaccānassa araññakuṭikā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā parito parito kuṭikāya anucaṅkamanti anuvicaranti uccāsaddā mahāsaddā kānici kānici seleyyakāni karonti: “ime pana muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā bandhupādāpaccā, imesaṁ bharatakānaṁ sakkatā garukatā mānitā pūjitā apacitā”ti.
Atha kho āyasmā mahākaccāno vihārā nikkhamitvā te māṇavake etadavoca: “mā māṇavakā saddamakattha; dhammaṁ vo bhāsissāmī”ti.
Evaṁ vutte, te māṇavakā tuṇhī ahesuṁ. Atha kho āyasmā mahākaccāno te māṇavake gāthāhi ajjhabhāsi:
At one time Venerable Mahākaccāna was staying in the land of the Avantis in a wilderness hut near Makkarakaṭa.
Then several students, pupils of the brahmin Lohicca, approached Mahākaccāna’s wilderness hut while collecting firewood. They walked and wandered all around the hut, making a colossal racket and all kinds of jeers: “These shavelings, fake ascetics, primitives, black spawn from the feet of our kinsman, the Lord! They’re honored, respected, revered, venerated, and esteemed by so-called inheritors of Vedic culture.”
Then Mahākaccāna left his dwelling and said to those young students, “Young students, stop being so noisy. I will speak to you on the teaching.”
When this was said, the young students fell silent. Then Mahākaccāna recited these verses for them:
132. Một thời, Tôn giả Mahākaccāna trú tại một am thất trong rừng ở Makkarakaṭa, xứ Avantī. Bấy giờ, nhiều thanh niên Bà-la-môn, đệ tử của Bà-la-môn Lohicca, đang đi lượm củi, đi đến am thất của Tôn giả Mahākaccāna. Sau khi đến, họ đi kinh hành, đi đi lại lại xung quanh am thất, la hét ồn ào, và chơi những trò đùa nghịch. Họ nói: ‘Những kẻ Sa-môn trọc đầu này là hạng hạ tiện, đen đủi, sinh ra từ chân của Phạm Thiên. Những kẻ hạ tiện này lại được người ta cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường, và đảnh lễ.’ Bấy giờ, Tôn giả Mahākaccāna ra khỏi tịnh xá và nói với các thanh niên ấy: ‘Này các thanh niên, đừng làm ồn nữa; ta sẽ thuyết Pháp cho các vị.’ Khi được nói vậy, các thanh niên ấy im lặng. Bấy giờ, Tôn giả Mahākaccāna nói với các thanh niên ấy bằng những bài kệ sau:
“Sīluttamā pubbatarā ahesuṁ, Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti; Guttāni dvārāni surakkhitāni, Ahesuṁ tesaṁ abhibhuyya kodhaṁ.
“For the brahmins of old, ethics were the highest; they remembered the ancient legends. Their sense doors were guarded, well protected, and they had mastered anger.
“Các Bà-la-môn thuở xưa, những vị nhớ đến truyền thống cổ, đã lấy giới hạnh làm đầu. Họ đã chế ngự sân hận, các căn môn được hộ trì, phòng hộ kỹ lưỡng.
Dhamme ca jhāne ca ratā ahesuṁ, Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti.
Ime ca vokkamma japāmaseti, Gottena mattā visamaṁ caranti;
Those brahmins who remembered <j>the ancient legends enjoyed virtue and absorption.
But these have lost their way. <j>Saying, ‘We must pray’, they live out of balance, judging by clan.
“Các Bà-la-môn thuở xưa, những vị nhớ đến truyền thống cổ, đã hoan hỷ trong Pháp và thiền định. Còn những người này, đã đi lệch khỏi con đường ấy, tự mãn rằng ‘chúng ta tụng đọc Vệ-đà’, say sưa vì dòng dõi, và hành xử bất chính.
Aguttadvārassa bhavanti moghā, Supineva laddhaṁ purisassa vittaṁ;
All is vain for someone <j>who doesn’t guard the sense doors, like the wealth a person finds in a dream.
“Bị sân hận chi phối, tay cầm nhiều loại trượng phạt, họ hành xử sai trái với người có ái dục và người không có ái dục. Đối với người không hộ trì các căn, mọi hành trì đều trở nên vô ích, như của cải một người có được trong giấc mơ.
“Việc nhịn ăn, việc nằm trên đất, việc tắm vào buổi sáng sớm, và ba tập Vệ-đà.
Kharājinaṁ jaṭāpaṅko, mantā sīlabbataṁ tapo; Kuhanā vaṅkadaṇḍā ca, udakācamanāni ca;
rough hides, dreadlocks, and mud, hymns, precepts and observances, <j>and fervent austerities, fawning, bent staffs, and sipping water.
“Mặc da thú thô ráp, để tóc bện và dính bẩn, các thần chú, giới cấm và khổ hạnh, sự lừa dối, gậy cong, và việc rửa mặt bằng nước.
Cittañca susamāhitaṁ, vippasannamanāvilaṁ; Akhilaṁ sabbabhūtesu, so maggo brahmapattiyā”ti.
A mind that’s serene, clear and unclouded, kind to all creatures: that’s the path to attainment of divinity!”
“Những điều này là vẻ bề ngoài của các Bà-la-môn, được thực hiện vì chút lợi lộc. Nhưng tâm được định tĩnh tốt, trong sáng không vẩn đục, không ác ý với tất cả chúng sinh, đó mới là con đường để đạt đến cõi Phạm thiên.”
Atha kho te māṇavakā kupitā anattamanā yena lohicco brāhmaṇo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā lohiccaṁ brāhmaṇaṁ etadavocuṁ: “yagghe bhavaṁ jāneyya, samaṇo mahākaccāno brāhmaṇānaṁ mante ekaṁsena apavadati, paṭikkosatī”ti?
Evaṁ vutte, lohicco brāhmaṇo kupito ahosi anattamano. Atha kho lohiccassa brāhmaṇassa etadahosi: “na kho pana metaṁ patirūpaṁ yohaṁ aññadatthu māṇavakānaṁyeva sutvā samaṇaṁ mahākaccānaṁ akkoseyyaṁ paribhāseyyaṁ. Yannūnāhaṁ upasaṅkamitvā puccheyyan”ti.
Then those young students, offended and upset, went to the brahmin Lohicca and said to him, “Please, master, you should know this. The ascetic Mahākaccāna condemns and rejects outright the hymns of the brahmins!”
When they said this, Lohicca was offended and upset. Then he thought, “But it wouldn’t be appropriate for me to abuse or insult the ascetic Mahākaccāna solely because of what I’ve heard from these young students. Why don’t I go and ask him about it?”
Bấy giờ, các thanh niên ấy tức giận, không hài lòng, đi đến chỗ Bà-la-môn Lohicca. Sau khi đến, họ nói với Bà-la-môn Lohicca: ‘Thưa Tôn giả, mong ngài biết cho, Sa-môn Mahākaccāna đã hoàn toàn chê bai, khiển trách các thần chú của Bà-la-môn.’ Khi được nói vậy, Bà-la-môn Lohicca tức giận và không hài lòng. Bấy giờ, Bà-la-môn Lohicca suy nghĩ: ‘Thật không thích hợp cho ta nếu chỉ nghe lời của các thanh niên này mà đi mắng nhiếc, lăng mạ Sa-môn Mahākaccāna. Tốt hơn là ta nên tự mình đến hỏi.’”
Atha kho lohicco brāhmaṇo tehi māṇavakehi saddhiṁ yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākaccānena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho lohicco brāhmaṇo āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca: “āgamaṁsu nu khvidha, bho kaccāna, amhākaṁ sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā”ti?
“Āgamaṁsu khvidha te, brāhmaṇa, sambahulā antevāsikā kaṭṭhahārakā māṇavakā”ti.
“Ahu pana bhoto kaccānassa tehi māṇavakehi saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathā kathaṁ pana bhoto kaccānassa tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo”ti?
“Evaṁ kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo:
Then the brahmin Lohicca together with those young students went to Venerable Mahākaccāna and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to him, “Master Kaccāna, did several young pupils of mine come by here collecting firewood?”
“They did, brahmin.”
“But did you have some discussion with them?”
“I did.”
“But what kind of discussion did you have with them?”
“This is the discussion I had with these young students.” And he repeated the verses in full.
Bấy giờ, Bà-la-môn Lohicca cùng với các thanh niên ấy đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna. Sau khi đến, ông cùng Tôn giả Mahākaccāna chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Lohicca nói với Tôn giả Mahākaccāna: ‘Thưa Tôn giả Kaccāna, có phải nhiều thanh niên đệ tử của chúng tôi, những người đi lượm củi, đã đến đây không?’ ‘Thưa Bà-la-môn, đúng vậy, nhiều thanh niên đệ tử của ông, những người đi lượm củi, đã đến đây.’ ‘Thưa Tôn giả Kaccāna, ngài có nói chuyện gì với các thanh niên ấy không?’ ‘Thưa Bà-la-môn, tôi có nói chuyện với các thanh niên ấy.’ ‘Thưa Tôn giả Kaccāna, cuộc nói chuyện của ngài với các thanh niên ấy đã diễn ra như thế nào?’ ‘Thưa Bà-la-môn, cuộc nói chuyện của tôi với các thanh niên ấy đã diễn ra như thế này:
‘Sīluttamā pubbatarā ahesuṁ, Te brāhmaṇā ye purāṇaṁ saranti; …pe… Akhilaṁ sabbabhūtesu, So maggo brahmapattiyā’ti.
“‘Các Bà-la-môn thuở xưa, những vị nhớ đến truyền thống cổ, đã lấy giới hạnh làm đầu... (v.v.)... không ác ý với tất cả chúng sinh, đó mới là con đường để đạt đến cõi Phạm thiên.’”
Evaṁ kho me, brāhmaṇa, tehi māṇavakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo”ti.
“‘Aguttadvāro’ti bhavaṁ kaccāno āha. Kittāvatā nu kho, bho kaccāna, aguttadvāro hotī”ti?
“Worthy Kaccāna spoke of someone who doesn’t guard the sense doors. How do you define someone who doesn’t guard the sense doors?”
“‘Thưa Bà-la-môn, cuộc nói chuyện của tôi với các thanh niên ấy đã diễn ra như vậy.’”
“Idha, brāhmaṇa, ekacco cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati, parittacetaso tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe ca dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati, parittacetaso tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Evaṁ kho, brāhmaṇa, aguttadvāro hotī”ti.
“Acchariyaṁ, bho kaccāna, abbhutaṁ, bho kaccāna. Yāvañcidaṁ bhotā kaccānena aguttadvārova samāno aguttadvāroti akkhāto.
“Brahmin, take someone who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
When they hear a sound with their ears …
When they smell an odor with their nose …
When they taste a flavor with their tongue …
When they feel a touch with their body …
When they know an idea with their mind, if it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart stunted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
That’s how someone doesn’t guard the sense doors.”
“It’s incredible, worthy Kaccāna, it’s amazing! How accurately you’ve explained someone whose sense doors are unguarded!
“‘Tôn giả Kaccāna đã nói về “người không hộ trì các căn”. Thưa Tôn giả Kaccāna, thế nào là một người không hộ trì các căn?’ ‘Này Bà-la-môn, ở đây, có người sau khi thấy một sắc bằng mắt, liền dính mắc vào sắc khả ái, sân hận với sắc không khả ái, trú với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp, và không biết như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã khởi lên của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Sau khi nghe một tiếng bằng tai... sau khi ngửi một mùi bằng mũi... sau khi nếm một vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận một xúc chạm bằng thân... sau khi biết một pháp bằng ý, liền dính mắc vào pháp khả ái, sân hận với pháp không khả ái, trú với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp, và không biết như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã khởi lên của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là người không hộ trì các căn.’ ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả Kaccāna! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Kaccāna! Tôn giả Kaccāna đã mô tả một cách chính xác người không hộ trì các căn đúng như một người không hộ trì các căn.’
‘Guttadvāro’ti bhavaṁ kaccāno āha. Kittāvatā nu kho, bho kaccāna, guttadvāro hotī”ti?
“Idha, brāhmaṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati, appamāṇacetaso tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati, appamāṇacetaso tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Evaṁ kho, brāhmaṇa, guttadvāro hotī”ti.
You also spoke of someone who does guard the sense doors. How do you define someone who does guard the sense doors?”
“Brahmin, take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
When they hear a sound with their ears …
When they smell an odor with their nose …
When they taste a flavor with their tongue …
When they feel a touch with their body …
When they know an idea with their mind, if it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
That’s how someone guards the sense doors.”
Tôn giả Kaccāna nói: ‘Người hộ trì các căn’. Thưa Tôn giả Kaccāna, thế nào là người hộ trì các căn? Này Bà-la-môn, ở đây, vị Tỷ-kheo sau khi thấy sắc bằng mắt, không đắm say đối với sắc khả ái, không sân hận đối với sắc không khả ái, vị ấy an trú với niệm được an lập, với tâm vô lượng, và vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Sau khi nghe tiếng bằng tai… sau khi ngửi hương bằng mũi… sau khi nếm vị bằng lưỡi… sau khi cảm xúc bằng thân… sau khi biết pháp bằng ý, không đắm say đối với pháp khả ái, không sân hận đối với pháp không khả ái, vị ấy an trú với niệm được an lập, với tâm vô lượng, và vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Này Bà-la-môn, như vậy là người hộ trì các căn.
“Acchariyaṁ, bho kaccāna, abbhutaṁ, bho kaccāna. Yāvañcidaṁ bhotā kaccānena guttadvārova samāno guttadvāroti akkhāto. Abhikkantaṁ, bho kaccāna; abhikkantaṁ, bho kaccāna. Seyyathāpi, bho kaccāna, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā kaccānena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bho kaccāna, taṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ kaccāno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ.
Yathā ca bhavaṁ kaccāno makkarakate upāsakakulāni upasaṅkamati; evameva lohiccakulaṁ upasaṅkamatu. Tattha ye māṇavakā vā māṇavikā vā bhavantaṁ kaccānaṁ abhivādessanti paccuṭṭhissanti āsanaṁ vā udakaṁ vā dassanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Navamaṁ.
“It’s incredible, worthy Kaccāna, it’s amazing! How accurately you’ve explained someone whose sense doors are guarded! Excellent, worthy Kaccāna! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the worthy Kaccāna has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Kaccāna remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.
Please come to my family just as you go to the families of the lay followers in Makkarakaṭa. The brahmin boys and girls there will bow to you, rise in your presence, and give you a seat and water. That will be for their lasting welfare and happiness.”
Thật vi diệu, thưa Tôn giả Kaccāna! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Kaccāna! Tôn giả Kaccāna đã khéo giải thích về người hộ trì các căn đúng như một người hộ trì các căn. Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Kaccāna! Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Kaccāna! Thưa Tôn giả Kaccāna, ví như người lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Tôn giả Kaccāna đã dùng nhiều phương tiện để trình bày Chánh pháp. Thưa Tôn giả Kaccāna, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Kaccāna hãy ghi nhận con là một nam cư sĩ đã quy y Tam Bảo kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và mong Tôn giả Kaccāna hãy đến gia đình Lohicca này giống như ngài vẫn thường đến các gia đình cư sĩ ở Makkarakata. Ở đó, những thanh niên hay thiếu nữ nào đảnh lễ Tôn giả Kaccāna, đứng dậy chào đón, dâng cúng chỗ ngồi hay nước uống, điều ấy sẽ đem lại cho họ lợi ích và an lạc lâu dài.