- Saṁyutta Nikāya 35.120
- 12. Lokakāmaguṇavagga
Bản dịch
SN 35.120 — Kinh Vị Đệ Tử Cùng Sống Với Ngài Sāriputta
Sāriputtasaddhivihārikasutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthi, tại Jetanvana, vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Sāriputta:
—Tỷ-kheo đồng trú, thưa Tôn giả Sāriputta, đã từ bỏ học pháp và hoàn tục.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, như vậy xẩy đến cho vị nào không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Cho đến trọn đời, vị ấy có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, sự việc như vậy không xảy ra.
Vi-n 5 Này Hiền giả, một Tỷ-kheo hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm tỉnh giác. Cho đến trọn đời, vị ấy có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, sự việc như vậy có xảy ra.
Vi-n 6 Và này Hiền giả, thế nào là hộ trì các căn? Này Hiền giả, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này Hiền giả, là sự hộ trì các căn.
Vi-n 7 Này Hiền giả, thế nào là tiết độ trong ăn uống? Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng các món ăn. Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự mình làm đẹp mình mà chỉ để thân này được duy trì và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Như vậy, này Hiền giả, là tiết độ trong ăn uống.
Vi-n 8 Và này Hiền giả, như thế nào là chú tâm tỉnh giác? Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành và ngồi, tâm gột sạch các pháp triền cái. Ban đêm trong canh một, trong khi vị ấy đi kinh hành và ngồi, tâm gột sạch các pháp triền cái. Ban đêm trong canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên hữu, trong tư thế con sư tử, chân này đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng đến lúc ngồi dậy. Ban đêm trong canh cuối, khi vị ấy đi kinh hành và trong khi ngồi, tâm gột sạch khỏi các pháp triền cái. Như vậy, này Hiền giả, là chú tâm tỉnh giác.
Vi-n 9 Do vậy, này Hiền giả, cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm tỉnh giác”.
Như vậy, này Hiền giả, ông cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.120
- 12. The World and the Kinds of Sensual Stimulation
Sāriputta and the Protégé
7. Kinh Vị Đệ Tử Cùng Sống Với Ngài Sāriputta
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññataro bhikkhu yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “saddhivihāriko, āvuso sāriputta, bhikkhu sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto”ti.
At one time Venerable Sāriputta was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then a certain mendicant went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and said to him, “Reverend Sāriputta, a mendicant protégé of mine has resigned the training and returned to a lesser life.”
120. Một thời, trưởng lão Sāriputta trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika tại Jetavana. Bấy giờ, một vị tỳ khưu nào đó đi đến chỗ trưởng lão Sāriputta; sau khi đến, đã cùng trưởng lão Sāriputta trao đổi lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi sang một bên. Ngồi sang một bên, vị tỳ khưu ấy thưa với trưởng lão Sāriputta rằng: “Thưa hiền giả Sāriputta, vị tỳ khưu đệ tử cùng sống với ngài đã từ bỏ học giới và hoàn tục.”
“Evametaṁ, āvuso, hoti indriyesu aguttadvārassa, bhojane amattaññuno, jāgariyaṁ ananuyuttassa. ‘So vatāvuso, bhikkhu indriyesu aguttadvāro bhojane amattaññū jāgariyaṁ ananuyutto yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ santānessatī’ti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. ‘So vatāvuso, bhikkhu indriyesu guttadvāro, bhojane mattaññū, jāgariyaṁ anuyutto yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ santānessatī’ti ṭhānametaṁ vijjati.
“That’s how it is, reverend, when someone doesn’t guard the sense doors, eats too much, and is not committed to wakefulness. It is quite impossible for such a mendicant to maintain the full and pure spiritual life for the rest of their life. But it is quite possible for a mendicant to maintain the full and pure spiritual life for the rest of their life if they guard the sense doors, eat in moderation, and are committed to wakefulness.
“Này hiền giả, sự việc là như vậy đối với người không phòng hộ các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, không chuyên tâm vào sự tỉnh thức. Này hiền giả, không có trường hợp một vị tỳ khưu không phòng hộ các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, không chuyên tâm vào sự tỉnh thức, lại có thể duy trì phạm hạnh một cách trọn vẹn và thanh tịnh cho đến trọn đời. Này hiền giả, có trường hợp một vị tỳ khưu phòng hộ các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm vào sự tỉnh thức, có thể duy trì phạm hạnh một cách trọn vẹn và thanh tịnh cho đến trọn đời.”
Kathañcāvuso, indriyesu guttadvāro hoti? Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā … ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati. Evaṁ kho, āvuso, indriyesu guttadvāro hoti.
And how does someone guard the sense doors? When a mendicant sees a sight with the eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. That’s how someone guards the sense doors.
“Này chư hiền, thế nào là người có các căn được phòng hộ? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà nếu vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để phòng hộ nhân duyên ấy, bảo vệ nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi nghe tiếng bằng tai… sau khi ngửi mùi bằng mũi… sau khi nếm vị bằng lưỡi… sau khi cảm nhận xúc chạm bằng thân… sau khi biết pháp bằng ý thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà nếu vị ấy sống không phòng hộ ý căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để phòng hộ nhân duyên ấy, bảo vệ ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Này chư hiền, như vậy là người có các căn được phòng hộ.”
Kathañcāvuso, bhojane mattaññū hoti? Idhāvuso, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti: ‘neva davāya, na madāya, na maṇḍanāya, na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, vihiṁsūparatiyā, brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati, anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti. Evaṁ kho, āvuso, bhojane mattaññū hoti.
And how does someone eat in moderation? It’s when a mendicant reflects rationally on the food that they eat: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’ That’s how someone eats in moderation.
“Này chư hiền, thế nào là người biết tiết độ trong ăn uống? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi suy xét một cách như lý, thọ dụng vật thực: ‘Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp, mà chỉ để cho thân này được duy trì và tồn tại, để chấm dứt sự khổ não, để hỗ trợ cho phạm hạnh. Như vậy, ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ, và không để cảm thọ mới phát sinh, ta sẽ được sống qua ngày, không có lỗi lầm, và được an trú thoải mái.’ Này chư hiền, như vậy là người biết tiết độ trong ăn uống.”
Kathañcāvuso, jāgariyaṁ anuyutto hoti? Idhāvuso, bhikkhu divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti. Rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti. Rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeti pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno, uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā. Rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti. Evaṁ kho, āvuso, jāgariyaṁ anuyutto hoti.
Tasmātihāvuso, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘indriyesu guttadvārā bhavissāma, bhojane mattaññuno, jāgariyaṁ anuyuttā’ti. Evañhi vo, āvuso, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.
And how is someone committed to wakefulness? It’s when a mendicant practices walking and sitting meditation by day, purifying their mind from obstacles. In the first watch of the night, they continue to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, they lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. In the last watch, they get up and continue to practice walking and sitting meditation, purifying their mind from obstacles. That’s how someone is committed to wakefulness.
So you should train like this: ‘We will guard the sense doors, eat in moderation, and be committed to wakefulness.’ That’s how you should train.”
“Này chư hiền, thế nào là người chuyên tâm tỉnh thức? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu vào ban ngày, bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Vào canh đầu của đêm, bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Vào canh giữa của đêm, vị ấy nằm xuống trong tư thế con sư tử, nghiêng về bên phải, chân này gác lên chân kia một chút, chánh niệm và tỉnh giác, tác ý trong tâm về tưởng thức dậy. Vào canh cuối của đêm, sau khi thức dậy, bằng cách đi kinh hành và ngồi thiền, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Này chư hiền, như vậy là người chuyên tâm tỉnh thức. Do đó, này chư hiền, các vị nên học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ có các căn được phòng hộ, sẽ biết tiết độ trong ăn uống, sẽ chuyên tâm tỉnh thức.’ Này chư hiền, các vị nên học tập như vậy.” Hết bài kinh thứ bảy.