- Saṁyutta Nikāya 35.119
- 12. Lokakāmaguṇavagga
Bản dịch
SN 35.119 — Kinh Pañcasikha
Pañcasikhasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Rồi Pancasikha, con vị vua Gandhabba, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên.
Vi-n 3 Ðứng một bên, Pancasikha, con Gandhabba, bạch Thế Tôn: ” … (giống như kinh trước, câu hỏi và câu đáp giống như kinh trước)”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.119
- 12. The World and the Kinds of Sensual Stimulation
The Question of Pañcasikha
6. Kinh Pañcasikha
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Atha kho pañcasikho gandhabbadevaputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho pañcasikho gandhabbadevaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo yena m’idhekacce sattā diṭṭheva dhamme no parinibbāyanti? Ko pana, bhante, hetu, ko paccayo yena m’idhekacce sattā diṭṭheva dhamme parinibbāyantī”ti?
“Santi kho, pañcasikha, cakkhuviññeyyā rūpā …pe…
santi kho, pañcasikha, manoviññeyyā dhammā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato tannissitaṁ viññāṇaṁ hoti tadupādānaṁ. Saupādāno, pañcasikha, bhikkhu no parinibbāyati. Ayaṁ kho, pañcasikha, hetu, ayaṁ paccayo yena m’idhekacce sattā diṭṭheva dhamme no parinibbāyanti.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. And then the centaur Pañcasikha went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:
“What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?”
“Pañcasikha, there are sights known by the eye …
ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life.
119. Một thời, đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Bấy giờ, thiên tử Càn-thát-bà Pañcasikha đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, thiên tử Càn-thát-bà Pañcasikha bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà một số chúng sanh ở đây không thể đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại? Và bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà một số chúng sanh ở đây có thể đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại?” “Này Pañcasikha, thật sự có các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức... v.v... Này Pañcasikha, thật sự có các pháp được nhận biết bởi ý thức, là những đối tượng đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khơi dậy tham ái. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và an trú với sự bám víu vào đối tượng ấy, thì đối với vị ấy, người đang hoan hỷ, đang tán dương, và đang an trú với sự bám víu, thức nương tựa vào đối tượng ấy khởi sanh, và sự chấp thủ vào đối tượng ấy cũng khởi sanh. Này Pañcasikha, vị tỳ khưu có sự chấp thủ thì không thể đạt đến Niết-bàn. Này Pañcasikha, đây chính là nhân, đây chính là duyên mà do đó một số chúng sanh ở đây không thể đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại.”
Santi ca kho, pañcasikha, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā …pe…
santi kho, pañcasikha, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati, tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato na tannissitaṁ viññāṇaṁ hoti, na tadupādānaṁ. Anupādāno, pañcasikha, bhikkhu parinibbāyati. Ayaṁ kho, pañcasikha, hetu, ayaṁ paccayo yena m’idhekacce sattā diṭṭheva dhamme parinibbāyantī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
There are sights known by the eye …
ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life.”
“Và này Pañcasikha, thật sự có các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, là những đối tượng đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng... v.v... Này Pañcasikha, thật sự có các pháp được nhận biết bởi ý thức, là những đối tượng đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khơi dậy tham ái. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, và không an trú với sự bám víu vào đối tượng ấy, thì đối với vị ấy, người không hoan hỷ, không tán dương, và không an trú với sự bám víu, thức nương tựa vào đối tượng ấy không khởi sanh, và sự chấp thủ vào đối tượng ấy cũng không khởi sanh. Này Pañcasikha, vị tỳ khưu không có sự chấp thủ thì có thể đạt đến Niết-bàn. Này Pañcasikha, đây chính là nhân, đây chính là duyên mà do đó một số chúng sanh ở đây có thể đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại.” (Kinh thứ sáu).