- Saṁyutta Nikāya 35.118
- 12. Lokakāmaguṇavagga
Bản dịch
SN 35.118 — Kinh Câu Hỏi Của Sakka
Sakkapañhasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), tại Gijjhakùta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 3 Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không nhập Niết-bàn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại nhập được Niết-bàn?
Vi-n 4 —Này Thiên chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú, y cứ vào đấy, thức khởi lên chấp thủ cái ấy. Vì có chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy không nhập Niết-bàn.
Vi-n 5-8. Này Thiên chủ, có những tiếng do tai nhận thức … có những hương do mũi nhận thức … có những vị do lưỡi nhận thức … có những xúc do thân cảm giác …
Vi-n 9 Này Thiên chủ, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú. Do Tỷ-kheo ấy hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú, y cứ vào đấy, thức khởi lên chấp thủ cái ấy. Do có chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy không nhập Niết-bàn.
Vi-n 10 Này Thiên chủ, đây là nhân, đây là duyên, ở đây một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại không nhập Niết-bàn.
Vi-n 11-16. Và này Thiên chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời do vị ấy không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, không y cứ cái ấy, thức khởi lên không chấp thủ cái ấy. Do không chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo nhập Niết-bàn. Có những tiếng do tai nhận thức … Có những hương do mũi nhận thức … Có những vị do lưỡi nhận thức … Có những xúc do thân cảm giác …
Vi-n 17 Này Thiên chủ, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời do Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, không y cứ vào cái ấy, thức khởi lên không chấp thủ cái ấy. Không chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy nhập Niết-bàn.
Vi-n 18 Này Thiên chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại nhập Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.118
- 12. The World and the Kinds of Sensual Stimulation
The Question of Sakka
5. Kinh Câu Hỏi Của Sakka
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Atha kho sakko devānamindo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sakko devānamindo bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo yena m’idhekacce sattā diṭṭheva dhamme no parinibbāyanti? Ko pana, bhante, hetu, ko paccayo yena m’idhekacce sattā diṭṭheva dhamme parinibbāyantī”ti?
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. And then Sakka, lord of gods, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:
“What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?”
118. Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Bấy giờ, Sakka, vua của các vị trời, đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Sakka, vua của các vị trời, đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây một số chúng sanh không đạt được viên tịch ngay trong hiện tại? Và bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây một số chúng sanh đạt được viên tịch ngay trong hiện tại?”
“Santi kho, devānaminda, cakkhuviññeyyā rūpā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato tannissitaṁ viññāṇaṁ hoti tadupādānaṁ. Saupādāno, devānaminda, bhikkhu no parinibbāyati …pe….
“Lord of gods, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished.
“Này Thiên chủ, thật sự có các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, là những đối tượng đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khơi dậy tham ái. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và an trú với sự bám víu vào đối tượng ấy, thì đối với vị ấy, người đang hoan hỷ, đang tán dương, và đang an trú với sự bám víu, thức nương tựa vào đối tượng ấy khởi sanh, và sự chấp thủ vào đối tượng ấy cũng khởi sanh. Này Thiên chủ, vị tỳ khưu có sự chấp thủ thì không thể đạt đến Niết-bàn. ...v.v...”
Santi kho, devānaminda, jivhāviññeyyā rasā …pe… santi kho, devānaminda, manoviññeyyā dhammā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato tannissitaṁ viññāṇaṁ hoti tadupādānaṁ. Saupādāno, devānaminda, bhikkhu no parinibbāyati. Ayaṁ kho, devānaminda, hetu, ayaṁ paccayo yena m’idhekacce sattā diṭṭheva dhamme no parinibbāyanti.
There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life.
“Này Thiên chủ, thật sự có các vị pháp được nhận biết bởi thiệt thức... v.v... Này Thiên chủ, thật sự có các pháp được nhận biết bởi ý thức, là những đối tượng đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khơi dậy tham ái. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và an trú với sự bám víu vào đối tượng ấy, thì đối với vị ấy, người đang hoan hỷ, đang tán dương, và đang an trú với sự bám víu, thức nương tựa vào đối tượng ấy khởi sanh, và sự chấp thủ vào đối tượng ấy cũng khởi sanh. Này Thiên chủ, vị tỳ khưu có sự chấp thủ thì không thể đạt đến Niết-bàn. Này Thiên chủ, đây chính là nhân, đây chính là duyên mà do đó một số chúng sanh ở đây không thể đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại.”
Santi ca kho, devānaminda, cakkhuviññeyyā rūpā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato na tannissitaṁ viññāṇaṁ hoti, na tadupādānaṁ. Anupādāno, devānaminda, bhikkhu parinibbāyati …pe….
There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished.
“Và này Thiên chủ, thật sự có các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, là những đối tượng đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khơi dậy tham ái. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, và không an trú với sự bám víu vào đối tượng ấy, thì đối với vị ấy, người không hoan hỷ, không tán dương, và không an trú với sự bám víu, thức nương tựa vào đối tượng ấy không khởi sanh, và sự chấp thủ vào đối tượng ấy cũng không khởi sanh. Này Thiên chủ, vị tỳ khưu không có sự chấp thủ thì có thể đạt đến Niết-bàn. ...v.v...”
Santi kho, devānaminda, jivhāviññeyyā rasā …pe… santi kho, devānaminda, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato na tannissitaṁ viññāṇaṁ hoti na tadupādānaṁ. Anupādāno, devānaminda, bhikkhu parinibbāyati. Ayaṁ kho, devānaminda, hetu, ayaṁ paccayo yena m’idhekacce sattā diṭṭheva dhamme parinibbāyantī”ti.
Pañcamaṁ.
There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life.”
“Này Thiên chủ, thật sự có các vị pháp được nhận biết bởi thiệt thức... v.v... Này Thiên chủ, thật sự có các pháp được nhận biết bởi ý thức, là những đối tượng đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khơi dậy tham ái. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, và không an trú với sự bám víu vào đối tượng ấy, thì đối với vị ấy, người không hoan hỷ, không tán dương, và không an trú với sự bám víu, thức nương tựa vào đối tượng ấy không khởi sanh, và sự chấp thủ vào đối tượng ấy cũng không khởi sanh. Này Thiên chủ, vị tỳ khưu không có sự chấp thủ thì có thể đạt đến Niết-bàn. Này Thiên chủ, đây chính là nhân, đây chính là duyên mà do đó một số chúng sanh ở đây có thể đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại.” (Kinh thứ năm).