- Saṁyutta Nikāya 35.117
- 12. Lokakāmaguṇavagga
Bản dịch
SN 35.117 — Kinh Năm Dục Trưởng Dưỡng
Kāmaguṇasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta chưa giác ngộ, chưa thành Chánh đẳng Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta khởi lên ý nghĩ như sau: “Năm dục công đức mà tâm Ta trước kia cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại; ở đây, tâm Ta đi đến cuồng nhiệt khi chúng có mặt hiện tại, và trở thành giảm thiểu khi chúng chưa đến, còn ở vị lai”. Rồi, này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Năm dục công đức mà tâm Ta trước kia cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại. Ở đây, vì lợi ích cho chính Ta, hãy sống không phóng dật, gìn giữ tâm chánh niệm”.
Vi-n 3 Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với năm dục công đức mà tâm các Ông trước đây cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại; ở đây, tâm các Ông đi đến cuồng nhiệt khi chúng có mặt hiện tại, và trở thành giảm thiểu khi chúng chưa đến, còn ở vị lai. Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với năm dục công đức mà tâm các Ông trước đây cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại. Ở đây, vì lợi ích cho chính các Ông, hãy sống không phóng dật, gìn giữ tâm chánh niệm.
Vi-n 4 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: “Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham; các xứ cần phải được hiểu … Chỗ nào ý được đoạn diệt, pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu”. Các xứ cần phải được hiểu như vậy.
Vi-n 5 Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
Vi-n 6 Rồi các Tỷ-kheo, sau khi Thế Tôn ra đi chẳng bao lâu, khởi lên ý nghĩ sau đây: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt … Ai có thể phân tích ý nghĩa lời tuyên bố một cách rộng rãi?”
Vi-n 7 Rồi các Tỷ-kheo ấy lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ānanda được Thế Tôn tán thán.”.
Vi-n 8-11. (Như kinh trên, từ số 5 đến số 9, chỉ khác về lời tuyên bố của Thế Tôn)
Vi-n 12 —Vậy chư Hiền, hãy lắng và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda.
Vi-n 13 Tôn giả Ānanda nói như sau:
—Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng vắn tắt này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá: “Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham; các xứ cần phải được hiểu … Chỗ nào ý được đoạn diệt, pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu’”. Này chư Hiền, lời Thế Tôn nói lên vắn tắt này, không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Lời Thế Tôn nói, này chư Hiền, là thuộc về đoạn diệt sáu xứ. Do vậy, này chư Hiền, các xứ cần phải hiểu: “Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải hiểu … Chỗ nào ý đoạn diệt, các pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải hiểu biết”. Các xứ cần phải được hiểu như vậy.
Vi-n 14 Này chư Hiền, lời Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, ý nghĩa không được phân tích một cách rõ ràng, ý nghĩa ấy tôi hiểu một cách rõ ràng như vậy. Nếu muốn, chư Hiền hãy đi đến Thế Tôn và hỏi về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích như thế nào, chư Hiền hãy như vậy thọ trì.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 15 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói lên vắn tắt cho chúng con, không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, Thế Tôn đi vào tịnh xá: “Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu. ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, chỗ ấy sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu … Chỗ nào ý đoạn diệt, chỗ ấy pháp tưởng được ly tham, các xứ phải được hiểu’. Các xứ cần phải hiểu như vậy”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này cho chúng ta, nhưng không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá: ‘Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, chỗ ấy sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu … Chỗ nào ý đoạn diệt, chỗ ấy các pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu’. Các xứ cần phải hiểu như vậy’, nhưng ý nghĩa không được phân tích một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”.
Vi-n 16 Bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ānanda được bậc Ðạo Sư tán thán và được các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Với lời Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, nhưng không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Tôn giả Ānanda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này”.
Vi-n 17 Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng con hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda với những lý do này, với những câu này, với những chữ này, đã phân tích ý nghĩa.
—Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ānanda! Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ānanda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng sẽ trả lời như vậy, như Ānanda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy, hãy như vậy thọ trì.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.117
- 12. The World and the Kinds of Sensual Stimulation
The Kinds of Sensual Stimulation
4. Kinh Năm Dục Trưởng Dưỡng
“Pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi: ‘yeme pañca kāmaguṇā cetaso samphuṭṭhapubbā atītā niruddhā vipariṇatā, tatra me cittaṁ bahulaṁ gacchamānaṁ gaccheyya paccuppannesu vā appaṁ vā anāgatesu’.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘yeme pañca kāmaguṇā cetaso samphuṭṭhapubbā atītā niruddhā vipariṇatā, tatra me attarūpena appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo’.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhākampi ye te pañca kāmaguṇā cetaso samphuṭṭhapubbā atītā niruddhā vipariṇatā, tatra vo cittaṁ bahulaṁ gacchamānaṁ gaccheyya paccuppannesu vā appaṁ vā anāgatesu. Tasmātiha, bhikkhave, tumhākampi ye te pañca kāmaguṇā cetaso samphuṭṭhapubbā atītā niruddhā vipariṇatā, tatra vo attarūpehi appamādo sati cetaso ārakkho karaṇīyo.
Tasmātiha, bhikkhave, se āyatane veditabbe yattha cakkhu ca nirujjhati, rūpasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha jivhā ca nirujjhati, rasasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha mano ca nirujjhati, dhammasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe”ti.
Idaṁ vatvā bhagavā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
“Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘My mind might often stray toward the five kinds of sensual stimulation that I formerly experienced—which have passed, ceased, and perished—or to those in the present, or in the future a little.’
Then it occurred to me: ‘In my own way I should practice diligence, mindfulness, and protecting the mind regarding the five kinds of sensual stimulation that I formerly experienced—which have passed, ceased, and perished.’
So, mendicants, your minds might also often stray toward the five kinds of sensual stimulation that you formerly experienced—which have passed, ceased, and perished—or to those in the present, or in the future a little. So in your own way you should practice diligence, mindfulness, and protecting the mind regarding the five kinds of sensual stimulation that you formerly experienced—which have passed, ceased, and perished.
So you should understand that dimension where the eye ceases and perception of sights fades away. You should understand that dimension where the ear … nose … tongue … body … mind ceases and perception of ideas fades away.”
When he had spoken, the Blessed One rose from his seat and entered his dwelling.
117. “Này các Tỳ khưu, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng ngộ, trong khi còn là Bồ-tát, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Năm dục trưởng dưỡng nào mà tâm ta đã từng tiếp xúc, đã qua, đã diệt, đã biến hoại, tâm ta có thể thường xuyên hướng đến chúng, hoặc hướng đến các dục trưởng dưỡng hiện tại, hoặc ít hướng đến các dục trưởng dưỡng vị lai’. Này các Tỳ khưu, khi ấy Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Năm dục trưởng dưỡng nào mà tâm ta đã từng tiếp xúc, đã qua, đã diệt, đã biến hoại, ở đó, vì lợi ích của bản thân, ta phải thực hành sự không dể duôi, chánh niệm, để bảo vệ tâm’. Do vậy, này các Tỳ khưu, đối với các ngươi cũng vậy, năm dục trưởng dưỡng nào mà tâm các ngươi đã từng tiếp xúc, đã qua, đã diệt, đã biến hoại, tâm các ngươi có thể thường xuyên hướng đến chúng, hoặc hướng đến các dục trưởng dưỡng hiện tại, hoặc ít hướng đến các dục trưởng dưỡng vị lai. Do vậy, này các Tỳ khưu, đối với các ngươi cũng vậy, năm dục trưởng dưỡng nào mà tâm các ngươi đã từng tiếp xúc, đã qua, đã diệt, đã biến hoại, ở đó, vì lợi ích của bản thân, các ngươi phải thực hành sự không dể duôi, chánh niệm, để bảo vệ tâm. Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải biết xứ ấy, nơi mà mắt diệt và sắc tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy... ... nơi mà lưỡi diệt và vị tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy... ... nơi mà ý diệt và pháp tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy’. Sau khi nói điều này, Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá.”
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ acirapakkantassa bhagavato etadahosi: “idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘tasmātiha, bhikkhave, se āyatane veditabbe yattha cakkhu ca nirujjhati, rūpasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha jivhā ca nirujjhati, rasasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha mano ca nirujjhati, dhammasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe’ti. Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyā”ti?
Soon after the Buddha left, those mendicants considered, “The Buddha gave this brief summary, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. … Who can explain in detail the meaning of this brief summary given by the Buddha?”
Khi ấy, sau khi Thế Tôn rời đi không lâu, các Tỳ khưu ấy đã suy nghĩ như sau: “Này chư hiền, Thế Tôn của chúng ta, sau khi nêu lên đề mục một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá: ‘Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải biết xứ ấy, nơi mà mắt diệt và sắc tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy... ... nơi mà lưỡi diệt và vị tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy... ... nơi mà ý diệt và pháp tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy’. Ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này, đã được Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết?”
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā ānando satthu ceva saṁvaṇṇito, sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā ānando imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāmā”ti.
Then those mendicants thought, “This Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He is capable of explaining in detail the meaning of this brief summary given by the Buddha. Let’s go to him, and ask him about this matter.”
Khi ấy, các Tỳ khưu ấy đã suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ānanda này được chính Bậc Đạo Sư tán thán, và được các vị đồng phạm hạnh có trí tôn trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này, đã được Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết. Hay là chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này”.
Atha kho te bhikkhū yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ:
Then those mendicants went to Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. They told him what had happened, and said,
Khi ấy, các Tỳ khưu ấy đã đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, họ đã cùng Tôn giả Ānanda trao đổi lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỳ khưu ấy đã nói với Tôn giả Ānanda như sau:
“Này hiền giả Ānanda, Thế Tôn của chúng ta, sau khi nêu lên đề mục một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá: ‘Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải biết xứ ấy, nơi mà mắt diệt và sắc tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy... ... nơi mà lưỡi diệt và vị tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy... ... nơi mà ý diệt và pháp tưởng diệt, cần phải biết xứ ấy’. Này hiền giả, chúng tôi, sau khi Thế Tôn rời đi không lâu, đã suy nghĩ như sau: ‘Này chư hiền, Thế Tôn của chúng ta, sau khi nêu lên đề mục một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá: ‘Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải biết xứ ấy... ... cần phải biết xứ ấy’. Ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này, đã được Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết?’. Này hiền giả, chúng tôi đã suy nghĩ như sau: ‘Tôn giả Ānanda này được chính Bậc Đạo Sư tán thán, và được các vị đồng phạm hạnh có trí tôn trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này, đã được Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết. Hay là chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này’. Xin Tôn giả Ānanda hãy phân tích”.
“Seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa …pe…
vibhajatāyasmā ānando agaruṁ karitvā”ti.
“Reverends, suppose there was a person in need of heartwood. …”
“Please explain this, if it’s no trouble.”
“Này chư hiền, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi tìm lõi cây, đối với một cây lớn... ... Xin Tôn giả Ānanda hãy phân tích, đừng xem là gánh nặng”.
“Tenahāvuso, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ. Āyasmā ānando etadavoca:
“Then listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Ānanda said this:
“Vậy thì, chư hiền, hãy lắng nghe và khéo tác ý; tôi sẽ nói”. “Vâng, thưa hiền giả”, các Tỳ khưu ấy đã đáp lại Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda đã nói như sau:
“Yaṁ kho vo, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
‘tasmātiha, bhikkhave, se āyatane veditabbe yattha cakkhu ca nirujjhati, rūpasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha mano ca nirujjhati, dhammasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe’ti.
Imassa khvāhaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Saḷāyatananirodhaṁ no etaṁ, āvuso, bhagavatā sandhāya bhāsitaṁ: ‘tasmātiha, bhikkhave, se āyatane veditabbe, yattha cakkhu ca nirujjhati, rūpasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha mano ca nirujjhati, dhammasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe’ti.
Ayaṁ kho, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘tasmātiha, bhikkhave, se āyatane veditabbe yattha cakkhu ca nirujjhati, rūpasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha mano ca nirujjhati, dhammasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe’ti. Imassa khvāhaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Ākaṅkhamānā ca pana tumhe āyasmanto bhagavantaṁyeva upasaṅkamatha; upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccheyyātha. Yathā vo bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
“Reverends, the Buddha gave this brief summary, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail:
‘So you should understand that dimension where the eye ceases and perception of sights fades away. You should understand that dimension where the ear … nose … tongue … body … mind ceases and perception of ideas fades away.’
And this is how I understand the detailed meaning of this summary.
The Buddha was referring to the cessation of the six sense fields when he said: ‘So you should understand that dimension where the eye ceases and perception of sights fades away. You should understand that dimension where the ear … nose … tongue … body … mind ceases and perception of ideas fades away.’
The Buddha gave this brief summary, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. And this is how I understand the detailed meaning of this summary.
If you wish, you may go to the Buddha and ask him about this. You should remember it in line with the Buddha’s answer.”
“Này chư hiền, lời tóm tắt mà Thế Tôn, sau khi nêu lên một cách vắn tắt, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá mà không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi là: ‘Này các Tỳ khưu, do đó, xứ ấy cần phải được biết, nơi mà con mắt diệt và sắc tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết… cho đến… nơi mà ý diệt và pháp tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết.’ Này chư hiền, về lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau. Này chư hiền, lời này đã được Thế Tôn nói đến với chủ ý về sự diệt của sáu xứ: ‘Này các Tỳ khưu, do đó, xứ ấy cần phải được biết, nơi mà con mắt diệt và sắc tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết… cho đến… nơi mà ý diệt và pháp tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết.’ Này chư hiền, đây là lời tóm tắt mà Thế Tôn, sau khi nêu lên một cách vắn tắt, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá mà không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi: ‘Này các Tỳ khưu, do đó, xứ ấy cần phải được biết, nơi mà con mắt diệt và sắc tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết… cho đến… nơi mà ý diệt và pháp tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết.’ Này chư hiền, về lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế này. Và nếu các tôn giả muốn, hãy đến gặp chính Thế Tôn; sau khi đến gặp, hãy hỏi về ý nghĩa này. Như Thế Tôn giải thích cho các vị, các vị hãy ghi nhớ như vậy.”
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Yes, reverend,” replied those mendicants. Then they rose from their seats and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
“Thưa hiền giả, vâng ạ.” Các Tỳ khưu ấy sau khi hoan hỷ lời của tôn giả Ānanda, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỳ khưu ấy đã bạch với Thế Tôn điều này:
“Yaṁ kho no, bhante, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘tasmātiha, bhikkhave, se āyatane veditabbe yattha cakkhu ca nirujjhati, rūpasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha jivhā ca nirujjhati, rasasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha mano ca nirujjhati, dhammasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe’ti, tesaṁ no, bhante, amhākaṁ acirapakkantassa bhagavato etadahosi: ‘idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: “tasmātiha, bhikkhave, se āyatane veditabbe yattha cakkhu ca nirujjhati, rūpasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe …pe… yattha mano ca nirujjhati, dhammasaññā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe”ti. Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyā’ti? Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi: ‘ayaṁ kho āyasmā ānando satthu ceva saṁvaṇṇito, sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā ānando imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāmā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, yenāyasmā ānando tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ paṭipucchimha. Tesaṁ no, bhante, āyasmatā ānandena imehi ākārehi, imehi padehi, imehi byañjanehi attho vibhatto”ti.
Then they said, “And Ānanda explained the meaning to us in this manner, with these words and phrases.”
“Bạch Thế Tôn, lời tóm tắt mà Thế Tôn, sau khi nêu lên một cách vắn tắt, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá mà không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi là: ‘Này các Tỳ khưu, do đó, xứ ấy cần phải được biết, nơi mà con mắt diệt và sắc tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết… cho đến… nơi mà lưỡi diệt và vị tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết… cho đến… nơi mà ý diệt và pháp tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết.’ Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, không lâu sau khi Thế Tôn đi, đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Này chư hiền, lời tóm tắt này đã được Thế Tôn, sau khi nêu lên một cách vắn tắt, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá mà không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi là: ‘Này các Tỳ khưu, do đó, xứ ấy cần phải được biết, nơi mà con mắt diệt và sắc tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết… cho đến… nơi mà ý diệt và pháp tưởng cũng diệt; xứ ấy cần phải được biết.’ Ai có thể giải thích một cách rộng rãi ý nghĩa của lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi?’ Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Tôn giả Ānanda này được bậc Đạo Sư tán thán, và được các vị đồng phạm hạnh có trí tôn trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng giải thích một cách rộng rãi ý nghĩa của lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi. Hay là chúng ta hãy đi đến nơi tôn giả Ānanda ở; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi tôn giả Ānanda về ý nghĩa này.’ Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đã đi đến nơi tôn giả Ānanda ở; sau khi đến, chúng con đã hỏi tôn giả Ānanda về ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, ý nghĩa đã được tôn giả Ānanda giải thích bằng những cách thức này, bằng những câu chữ này, bằng những từ ngữ này.”
“Paṇḍito, bhikkhave, ānando; mahāpañño, bhikkhave, ānando. Mañcepi tumhe, bhikkhave, etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, ahampi taṁ evamevaṁ byākareyyaṁ yathā taṁ ānandena byākataṁ. Eso cevetassa attho. Evañca naṁ dhāreyyāthā”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, Ānanda is astute, he has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as Ānanda. That is what it means, and that’s how you should remember it.”
“Này các Tỳ khưu, Ānanda là bậc hiền trí! Này các Tỳ khưu, Ānanda là bậc đại tuệ! Này các Tỳ khưu, nếu các ông hỏi ta về ý nghĩa này, ta cũng sẽ giải thích y như đã được Ānanda giải thích. Đây chính là ý nghĩa của nó. Và các ông hãy ghi nhớ như vậy.” Hết kinh thứ tư.