- Saṁyutta Nikāya 35.116
- 12. Lokakāmaguṇavagga
Bản dịch
SN 35.116 — Kinh Đi Đến Tận Cùng Thế Giới
Lokantagamanasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới.
Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.
Vi-n 3 Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, khởi lên tư tưởng sau đây: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời nói vắn tắt này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới’. Lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi”?
Vi-n 4 Rồi các Tỷ-kheo ấy lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ānanda được Thế Tôn tán thán, được các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ānanda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này”.
Vi-n 5 Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 6 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ānanda:
—Thưa Hiền giả Ānanda, sau khi thuyết giảng lời vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách không đạt đến sự tận cùng thế giới”. Thưa Hiền giả, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời tuyên bố vắn tắt này cho chúng ta, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới’. Lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”. Rồi thưa Hiền giả, chúng tôi lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ānanda được Thế Tôn tán thán, được các bạn đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ānanda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này”. Mong Tôn giả Ānanda hãy phân tích cho.
Vi-n 7 —Này chư Hiền, ví như một người cần thiết lõi cây, tìm cầu lõi cây, đang đi tìm cầu lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây. Người ấy bỏ rễ, bỏ thân cây, nghĩ rằng lõi cây cần phải tìm trong các nhánh cây, lá cây. Cũng vậy, là việc chư Tôn giả làm … Chư Tôn giả đứng trước mặt Thế Tôn, chư Tôn giả lại vượt qua Thế Tôn và nghĩ rằng cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Nhưng này chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời, chư Hiền hãy đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chư Hiền như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
Vi-n 8 —Thưa Hiền giả Ānanda, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời chúng tôi đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Ānanda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ānanda có thể giải thích một cách rộng rãi lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn chưa được phân tích rộng rãi. Mong Tôn giả Ānanda phân tích cho, nếu Tôn giả không cảm thấy phiền phức (agarum katvà).
Vi-n 9 —Vậy chư Hiền hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda.
Vi-n 10 Tôn giả Ānanda nói như sau:
—Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: ” Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới”. Này chư Hiền, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu một cách rộng rãi như sau:
Vi-n 11 Này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh. Và này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới? Do con mắt, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Do tai, này chư Hiền … Do mũi, này chư Hiền … Do lưỡi, này chư Hiền … Do thân, này chư Hiền … Do ý, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Ðây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.
Vi-n 12 Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt cho chư Hiền, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới”. Này chư Hiền, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nhưng nếu muốn, chư Tôn giả hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 13 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng … sự tận cùng thế giới”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn ra đi không được bao lâu, chúng con khởi lên ý nghĩ này: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng … sự tận cùng thế giới’. Lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”
Vi-n 14 Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ānanda được Thế Tôn tán thán, được các bạn đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ānanda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này”. Và, bạch Thế Tôn, chúng con đã đi đến Tôn giả Ānanda và hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này.
Vi-n 15 Bạch Thế Tôn, với những lý do này, với những câu này, với những chữ này, ý nghĩa được Tôn giả Ānanda giải thích cho chúng con …
—Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ānanda. Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ānanda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông có hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Ānanda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy. Hãy thọ trì như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.116
- 12. The World and the Kinds of Sensual Stimulation
Traveling to the End of the World
3. Kinh Đi Đến Tận Cùng Thế Giới
“Nāhaṁ, bhikkhave, gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ, daṭṭheyyaṁ, patteyyanti vadāmi. Na ca panāhaṁ, bhikkhave, appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmī”ti.
Idaṁ vatvā bhagavā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ acirapakkantassa bhagavato etadahosi: “idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘“nāhaṁ, bhikkhave, gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ, daṭṭheyyaṁ, patteyyan”ti vadāmi. Na ca panāhaṁ, bhikkhave, appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmī’ti. Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyā”ti?
“Mendicants, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling. But I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world.”
When he had spoken, the Blessed One rose from his seat and entered his dwelling.
Soon after the Buddha left, those mendicants considered, “The Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. … Who can explain in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha?”
116. Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có thể biết được, thấy được, đạt đến được tận cùng của thế giới bằng cách đi. Và này các tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế giới. Sau khi nói điều này, đức Thế Tôn đã đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá. Bấy giờ, không lâu sau khi đức Thế Tôn rời đi, các vị tỳ khưu ấy đã có suy nghĩ này: ‘Này chư hiền, đức Thế Tôn đã nêu lên đề mục này một cách tóm tắt cho chúng ta, rồi đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá mà không giải thích ý nghĩa một cách chi tiết: ‘Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có thể biết được, thấy được, đạt đến được tận cùng của thế giới bằng cách đi. Và này các tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế giới.’ Vậy ai có thể giải thích một cách chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được đức Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được giải thích chi tiết đây?’
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā ānando satthu ceva saṁvaṇṇito, sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā ānando imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāmā”ti.
Then those mendicants thought, “This Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He is capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Let’s go to him, and ask him about this matter.”
Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã có suy nghĩ này: ‘Tôn giả Ānanda này vừa được bậc Đạo Sư tán thán, vừa được các vị đồng phạm hạnh có trí tuệ kính trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng giải thích một cách chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được đức Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được giải thích chi tiết. Hay là chúng ta hãy đi đến chỗ tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi tôn giả Ānanda về ý nghĩa này.’
Atha kho te bhikkhū yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ:
Then those mendicants went to Ānanda and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. They told him what had happened, and said,
Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến chỗ tôn giả Ānanda; sau khi đến, các vị đã cùng với tôn giả Ānanda nói lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, các vị đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói điều này với tôn giả Ānanda:
Này hiền giả Ānanda, đức Thế Tôn đã nêu lên đề mục này một cách tóm tắt cho chúng tôi, rồi đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá mà không giải thích ý nghĩa một cách chi tiết: ‘Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có thể biết được, thấy được, đạt đến được tận cùng của thế giới bằng cách đi. Và này các tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế giới.’ Này hiền giả, không lâu sau khi đức Thế Tôn rời đi, chúng tôi đã có suy nghĩ này: ‘Này chư hiền, đức Thế Tôn đã nêu lên đề mục này một cách tóm tắt cho chúng ta, rồi đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá mà không giải thích ý nghĩa một cách chi tiết: ‘Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có thể biết được, thấy được, đạt đến được tận cùng của thế giới bằng cách đi. Và này các tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế giới.’ Vậy ai có thể giải thích một cách chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được đức Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được giải thích chi tiết đây?’ Này hiền giả, chúng tôi lại có suy nghĩ này: ‘Tôn giả Ānanda này vừa được bậc Đạo Sư tán thán, vừa được các vị đồng phạm hạnh có trí tuệ kính trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng giải thích một cách chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được đức Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được giải thích chi tiết. Hay là chúng ta hãy đi đến chỗ tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi tôn giả Ānanda về ý nghĩa này.’ Mong tôn giả Ānanda hãy giải thích.
“Seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva, mūlaṁ atikkammeva, khandhaṁ sākhāpalāse sāraṁ pariyesitabbaṁ maññeyya;
evaṁ sampadamidaṁ āyasmantānaṁ satthari sammukhībhūte taṁ bhagavantaṁ atisitvā amhe etamatthaṁ paṭipucchitabbaṁ maññatha. So hāvuso, bhagavā jānaṁ jānāti, passaṁ passati—cakkhubhūto, ñāṇabhūto, dhammabhūto, brahmabhūto, vattā, pavattā, atthassa ninnetā, amatassa dātā, dhammassāmī, tathāgato. So ceva panetassa kālo ahosi yaṁ bhagavantaṁyeva etamatthaṁ paṭipuccheyyātha. Yathā vo bhagavā byākareyya tathā vo dhāreyyāthā”ti.
“Reverends, suppose there was a person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. But he’d pass over the roots and trunk, imagining that the heartwood should be sought in the branches and leaves.
Such is the consequence for the venerables. Though you were face to face with the Buddha, you bypassed him, imagining that you should ask me about this matter. For he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the preacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. You should have remembered it in line with the Buddha’s answer.”
Này chư hiền, ví như một người cần lõi cây, đang tìm kiếm lõi cây, đi đây đó để tìm lõi cây, lại bỏ qua gốc rễ, bỏ qua thân của một cây lớn, đứng vững, có lõi cây, và nghĩ rằng nên tìm lõi cây ở cành lá; cũng tương tự như vậy, việc làm của các tôn giả là đã bỏ qua đức Thế Tôn khi Ngài đang hiện diện trước mặt, và lại nghĩ rằng nên hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Này chư hiền, đức Thế Tôn ấy, Ngài biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy – Ngài là con mắt, là trí tuệ, là Chánh pháp, là Phạm thiên; Ngài là người thuyết giảng, người tuyên bố, người dẫn dắt đến ý nghĩa, người ban cho sự bất tử, là Pháp chủ, là Như Lai. Đó chính là thời điểm mà các vị nên hỏi chính đức Thế Tôn về ý nghĩa này. Và các vị nên ghi nhớ theo như cách đức Thế Tôn đã giải thích cho các vị.
“Addhāvuso ānanda, bhagavā jānaṁ jānāti, passaṁ passati—cakkhubhūto, ñāṇabhūto, dhammabhūto, brahmabhūto, vattā, pavattā, atthassa ninnetā, amatassa dātā, dhammassāmī, tathāgato. So ceva panetassa kālo ahosi yaṁ bhagavantaṁyeva etamatthaṁ paṭipuccheyyāma. Yathā no bhagavā byākareyya tathā naṁ dhāreyyāma.
Api cāyasmā ānando satthu ceva saṁvaṇṇito, sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā ānando imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Vibhajatāyasmā ānando agaruṁ karitvā”ti.
“Certainly he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the preacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. We should have remembered it in line with the Buddha’s answer.
Still, Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. You are capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Please explain this, if it’s no trouble.”
“Thưa hiền giả Ānanda, chắc chắn rằng Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy. Ngài là con mắt, là trí tuệ, là Chánh Pháp, là Phạm Thiên. Ngài là người thuyết giảng, người làm cho (giáo pháp) được lưu chuyển, người dẫn đến ý nghĩa, người ban cho sự bất tử, là Pháp vương, là Như Lai. Và đây chính là thời điểm mà chúng tôi nên hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ ghi nhớ như thế ấy. Tuy nhiên, Tôn giả Ānanda đã được Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tôn trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng giải thích chi tiết ý nghĩa của lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà chưa được phân tích chi tiết. Mong Tôn giả Ānanda, không xem là nặng nhọc, hãy phân tích (ý nghĩa ấy).”
“Tenahāvuso, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ. Āyasmā ānando etadavoca:
“Then listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Ānanda said this:
“Vậy thì, chư hiền giả, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.” “Thưa hiền giả, vâng ạ.” Các vị tỳ khưu ấy đã vâng đáp Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda đã nói điều này:
“Yaṁ kho vo, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
‘nāhaṁ, bhikkhave, gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ, daṭṭheyyaṁ, patteyyanti vadāmi. Na ca panāhaṁ, bhikkhave, appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmī’ti,
imassa khvāhaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Yena kho, āvuso, lokasmiṁ lokasaññī hoti lokamānī—ayaṁ vuccati ariyassa vinaye loko. Kena cāvuso, lokasmiṁ lokasaññī hoti lokamānī?
Cakkhunā kho, āvuso, lokasmiṁ lokasaññī hoti lokamānī. Sotena kho, āvuso … ghānena kho, āvuso … jivhāya kho, āvuso, lokasmiṁ lokasaññī hoti lokamānī. Kāyena kho, āvuso … manena kho, āvuso, lokasmiṁ lokasaññī hoti lokamānī.
Yena kho, āvuso, lokasmiṁ lokasaññī hoti lokamānī—ayaṁ vuccati ariyassa vinaye loko.
Yaṁ kho vo, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
‘nāhaṁ, bhikkhave, gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ, daṭṭheyyaṁ, patteyyanti vadāmi. Na ca panāhaṁ, bhikkhave, appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmī’ti,
imassa khvāhaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Ākaṅkhamānā ca pana tumhe āyasmanto bhagavantaṁyeva upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha. Yathā vo bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
“Reverends, the Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail:
‘Mendicants, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling. But I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world.’
This is how I understand the detailed meaning of this summary recital.
Whatever in the world through which you perceive the world and conceive the world is called the world in the training of the Noble One. And through what in the world do you perceive the world and conceive the world?
Through the eye in the world you perceive the world and conceive the world. Through the ear … nose … tongue … body … mind in the world you perceive the world and conceive the world.
Whatever in the world through which you perceive the world and conceive the world is called the world in the training of the Noble One.
Reverends, the Buddha gave this brief summary, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail:
‘Mendicants, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling. But I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world.’
That is how I understand the detailed meaning of this summary.
If you wish, you may go to the Buddha and ask him about this. You should remember it in line with the Buddha’s answer.”
“Này chư hiền giả, về lời tóm tắt mà Thế Tôn đã nêu lên một cách vắn tắt cho các vị, rồi không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá: ‘Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có thể biết, thấy, hay đạt đến tận cùng của thế gian bằng cách đi. Và này các tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế gian.’ Này chư hiền giả, tôi hiểu chi tiết ý nghĩa của lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà chưa được phân tích chi tiết. Này chư hiền giả, cái gì mà do đó ở trong thế gian có tưởng về thế gian, có ngã mạn về thế gian – cái ấy được gọi là thế gian trong giới luật của bậc Thánh. Và này chư hiền giả, do cái gì mà ở trong thế gian có tưởng về thế gian, có ngã mạn về thế gian? Này chư hiền giả, chính do con mắt mà ở trong thế gian có tưởng về thế gian, có ngã mạn về thế gian. Này chư hiền giả, chính do lỗ tai... chính do lỗ mũi... chính do lưỡi... chính do thân... chính do ý mà ở trong thế gian có tưởng về thế gian, có ngã mạn về thế gian. Này chư hiền giả, cái gì mà do đó ở trong thế gian có tưởng về thế gian, có ngã mạn về thế gian – cái ấy được gọi là thế gian trong giới luật của bậc Thánh. Này chư hiền giả, về lời tóm tắt mà Thế Tôn đã nêu lên một cách vắn tắt cho các vị, rồi không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá: ‘Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có thể biết, thấy, hay đạt đến tận cùng của thế gian bằng cách đi. Và này các tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế gian.’ Này chư hiền giả, tôi hiểu chi tiết ý nghĩa của lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà chưa được phân tích chi tiết là như vậy. Tuy nhiên, nếu các Tôn giả muốn, các vị có thể đến gần chính Thế Tôn và hỏi về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho các vị như thế nào, các vị hãy ghi nhớ như thế ấy.”
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Yes, reverend,” replied those mendicants. Then they rose from their seats and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
“Thưa hiền giả, vâng ạ.” Các vị tỳ khưu ấy đã vâng lời Tôn giả Ānanda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến nơi Thế Tôn đang ở. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã bạch với Thế Tôn điều này:
“Yaṁ kho no, bhante, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘nāhaṁ, bhikkhave, gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ, daṭṭheyyaṁ, patteyyanti vadāmi. Na ca panāhaṁ, bhikkhave, appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmī’ti. Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ acirapakkantassa bhagavato etadahosi: ‘idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho—nāhaṁ, bhikkhave, gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ, daṭṭheyyaṁ, patteyyanti vadāmi. Na ca panāhaṁ, bhikkhave, appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmīti. Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyā’ti? Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi: ‘ayaṁ kho āyasmā ānando satthu ceva saṁvaṇṇito, sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā ānando imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāmā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, yenāyasmā ānando tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ paṭipucchimha. Tesaṁ no, bhante, āyasmatā ānandena imehi ākārehi imehi padehi imehi byañjanehi attho vibhatto”ti.
Then they said, “And Ānanda explained the meaning to us in this manner, with these words and phrases.”
“Bạch Thế Tôn, về lời tóm tắt mà Thế Tôn đã nêu lên một cách vắn tắt cho chúng con, rồi không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá: ‘Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có thể biết, thấy, hay đạt đến tận cùng của thế gian bằng cách đi. Và này các tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế gian.’ Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng con đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Này chư hiền giả, Thế Tôn đã nêu lên lời tóm tắt này một cách vắn tắt cho chúng ta, rồi không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá: ‘Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có thể biết, thấy, hay đạt đến tận cùng của thế gian bằng cách đi. Và này các tỳ khưu, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế gian.’ Vậy ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà chưa được phân tích chi tiết?’ Bạch Thế Tôn, rồi chúng con lại khởi lên suy nghĩ này: ‘Tôn giả Ānanda này đã được Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tôn trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của lời tóm tắt này đã được Thế Tôn nêu lên một cách vắn tắt mà chưa được phân tích chi tiết. Hay là chúng ta hãy đến nơi Tôn giả Ānanda đang ở; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này.’ Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đã đến nơi Tôn giả Ānanda đang ở; sau khi đến, chúng con đã hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda đã phân tích ý nghĩa cho chúng con bằng những cách thức này, bằng những từ ngữ này, bằng những văn tự này.”
“Paṇḍito, bhikkhave, ānando; mahāpañño, bhikkhave, ānando. Mañcepi tumhe, bhikkhave, etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, ahampi taṁ evamevaṁ byākareyyaṁ yathā taṁ ānandena byākataṁ. Eso cevetassa attho, evañca naṁ dhāreyyāthā”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicants, Ānanda is astute, he has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as Ānanda. That is what it means, and that’s how you should remember it.”
“Này các tỳ khưu, Ānanda là bậc hiền trí! Này các tỳ khưu, Ānanda là bậc đại tuệ! Này các tỳ khưu, nếu các ngươi hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng sẽ giải thích y như Ānanda đã giải thích. Đây chính là ý nghĩa của nó, và các ngươi hãy ghi nhớ như vậy.” Kinh thứ ba.