- Saṁyutta Nikāya 35.105
- 11. Yogakkhemivagga
Bản dịch
SN 35.105 — Kinh Chấp Thủ
Upādāyasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, do có mặt cái gì, do chấp thủ cái gì khởi lên nội lạc, nội khổ?
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, do mắt có mặt, do chấp thủ mắt nên khởi lên nội lạc, nội khổ … tai … mũi … lưỡi … thân … Do ý có mặt, do chấp thủ ý nên khởi lên nội lạc, nội khổ.
Vi-n 5 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy thời có thể khởi lên nội khổ, nội lạc không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 6 —Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.105
- 11. Sanctuary from the Yoke
Because of Grasping
2. Kinh Chấp Thủ
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati kiṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“Mendicants, when what exists, because of grasping what, do pleasure and pain arise in oneself?”
105. “Này các Tỳ khưu, khi có cái gì, do chấp thủ cái gì mà lạc và khổ nội tại sanh khởi?”
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe….
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
“Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản... vân vân...
“Cakkhusmiṁ kho, bhikkhave, sati cakkhuṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhaṁ …pe… manasmiṁ sati manaṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhaṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Mendicants, when there’s an eye, because of grasping the eye, pleasure and pain arise in oneself. … When there’s a mind, because of grasping the mind, pleasure and pain arise in oneself.
What do you think, mendicants? Is the eye permanent or impermanent?”
“Này các Tỳ khưu, khi có con mắt, do chấp thủ con mắt mà lạc và khổ nội tại sanh khởi... vân vân... khi có ý, do chấp thủ ý mà lạc và khổ nội tại sanh khởi. Này các Tỳ khưu, các ngươi nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch Thế Tôn, vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would pleasure and pain arise in oneself?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, nếu không chấp thủ nó, liệu lạc và khổ nội tại có thể sanh khởi không?”
“No hetaṁ, bhante” …pe….
“No, sir.” …
“Bạch Thế Tôn, không thể được... vân vân...
“Jivhā niccā vā aniccā vā”ti?
“Is the ear … nose … tongue … body …
“Lưỡi là thường hay vô thường?”
“Bạch Thế Tôn, vô thường.”
“Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay lạc?”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, nếu không chấp thủ nó, liệu lạc và khổ nội tại có thể sanh khởi không?”
“Bạch Thế Tôn, không thể được... vân vân...
“Ý là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch ngài, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch ngài, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would pleasure and pain arise in oneself?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, nếu không chấp thủ vào nó, liệu lạc và khổ nội tại có thể khởi sanh được chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, điều ấy không thể được.”
“Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Dutiyaṁ.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, khi thấy như vậy, liền nhàm chán đối với mắt... cho đến... nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; trong sự giải thoát có trí tuệ khởi lên rằng: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’.” Hết bài kinh thứ hai.