- Saṁyutta Nikāya 35.104
- 11. Yogakkhemivagga
Bản dịch
SN 35.104 — Kinh An Ổn Khỏi Ách Nặng
Yogakkhemisutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn đưa đến an ổn, khỏi các khổ ách, pháp môn đúng pháp. Hãy lắng nghe.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn đưa đến an ổn, khỏi các khổ ách?
Vi-n 4-8. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận biết khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những sắc ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Ðể đoạn tận chúng, Như Lai tuyên bố cái ách. Do vậy, Như Lai được gọi là vị đã được an ổn, khỏi các khổ ách … có những tiếng … có những hương … có những vị … có những xúc …
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận biết khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những pháp ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Ðể đoạn tận chúng, Như Lai tuyên bố cái ách. Do vậy, Như Lai được gọi là vị đã được an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn đưa đến an ổn, khỏi các khổ ách, là pháp môn đúng pháp.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.104
- 11. Sanctuary from the Yoke
Sanctuary from the Yoke
1. Kinh An Ổn Khỏi Ách Nặng
Sāvatthinidānaṁ.
“Yogakkhemipariyāyaṁ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha.
Katamo ca, bhikkhave, yogakkhemipariyāyo dhammapariyāyo?
Santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Tesañca pahānāya akkhāsi yogaṁ, tasmā tathāgato ‘yogakkhemī’ti vuccati …pe…
santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Tesañca pahānāya akkhāsi yogaṁ, tasmā tathāgato ‘yogakkhemī’ti vuccati.
Ayaṁ kho, bhikkhave, yogakkhemipariyāyo dhammapariyāyo”ti.
Paṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach you an exposition of the teaching, an explanation of one who has found sanctuary from the yoke. Listen …
And what is an exposition of the teaching, an explanation of one who has found sanctuary from the yoke?
There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. The Realized One has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future. He teaches yoking oneself to meditation for giving them up. That’s why the Realized One is called one who has found sanctuary from the yoke. …
There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. The Realized One has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future. He teaches yoking oneself to meditation for giving them up. That’s why the Realized One is called one who has found sanctuary from the yoke.
This is an exposition of the teaching, an explanation of one who has found sanctuary from the yoke.”
104. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi pháp môn, phương pháp về sự an ổn khỏi các ách nặng. Hãy lắng nghe. Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp môn, phương pháp về sự an ổn khỏi các ách nặng? Này các Tỳ khưu, có những sắc pháp do mắt nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, có thể làm khởi sanh tham ái. Chúng đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không có bản chất sanh khởi trong tương lai. Và ngài đã tuyên bố sự nỗ lực để đoạn tận chúng, do đó Như Lai được gọi là ‘bậc an ổn khỏi các ách nặng’... vân vân... Này các Tỳ khưu, có những pháp do ý nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, có thể làm khởi sanh tham ái. Chúng đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không có bản chất sanh khởi trong tương lai. Và ngài đã tuyên bố sự nỗ lực để đoạn tận chúng, do đó Như Lai được gọi là ‘bậc an ổn khỏi các ách nặng’. Này các Tỳ khưu, đây là pháp môn, phương pháp về sự an ổn khỏi các ách nặng.” (Kinh) thứ nhất.