- Saṁyutta Nikāya 35.106
- 11. Yogakkhemivagga
Bản dịch
SN 35.106 — Dukkhasamudayasutta
Dukkhasamudayasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về khổ tập khởi và khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ tập khởi?
Vi-n 4-9. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi. Do duyên tai … Do duyên mũi … Do duyên lưỡi … Do duyên thân … Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi, này các Tỷ-kheo.
Vi-n 10 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?
Vi-n 11 Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt.
Vi-n 12-13. Do duyên tai … Do duyên mũi …
Vi-n 14-15. Do duyên lưỡi … Do duyên thân …
Vi-n 16 Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.106
- 11. Sanctuary from the Yoke
The Origin of Suffering
3. Bài kinh về Sự Tập Khởi của Khổ
“Dukkhassa, bhikkhave, samudayañca atthaṅgamañca desessāmi. Taṁ suṇātha.
Katamo ca, bhikkhave, dukkhassa samudayo? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ. Tiṇṇaṁ saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā. Ayaṁ dukkhassa samudayo …pe… jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ. Tiṇṇaṁ saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā.
Ayaṁ dukkhassa samudayo …pe… manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ. Tiṇṇaṁ saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā. Ayaṁ kho, bhikkhave, dukkhassa samudayo.
“Mendicants, I will teach you the origin and disappearance of suffering. Listen …
And what, mendicants, is the origin of suffering? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. This is the origin of suffering …
Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. This is the origin of suffering.
106. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng về sự tập khởi và sự đoạn diệt của khổ. Các ngươi hãy lắng nghe. Và này các Tỳ khưu, thế nào là sự tập khởi của khổ? Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Sự hội hợp của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có thọ; do duyên thọ nên có ái. Đây là sự tập khởi của khổ... cho đến... Do duyên cái lưỡi và các vị, thiệt thức khởi lên. Sự hội hợp của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có thọ; do duyên thọ nên có ái. Đây là sự tập khởi của khổ... cho đến... Do duyên ý và các pháp, ý thức khởi lên. Sự hội hợp của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có thọ; do duyên thọ nên có ái. Này các Tỳ khưu, đây chính là sự tập khởi của khổ.”
Katamo ca, bhikkhave, dukkhassa atthaṅgamo? Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ. Tiṇṇaṁ saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā. Tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā bhavanirodho; bhavanirodhā jātinirodho; jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti. Ayaṁ dukkhassa atthaṅgamo …pe… jivhañca paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṁ …pe…
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ. Tiṇṇaṁ saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā. Tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā bhavanirodho; bhavanirodhā jātinirodho; jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti. Ayaṁ kho, bhikkhave, dukkhassa atthaṅgamo”ti.
Tatiyaṁ.
And what is the disappearance of suffering? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. When that craving fades away and ceases with no residue left behind, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases. This is the disappearance of suffering. …
Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. When that craving fades away and ceases with no residue left behind, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases. This is the disappearance of suffering.”
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là sự đoạn diệt của khổ? Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Sự hội hợp của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có thọ; do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham và đoạn diệt không còn dư tàn của chính ái ấy nên thủ diệt; do thủ diệt nên hữu diệt; do hữu diệt nên sanh diệt; do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này. Đây là sự đoạn diệt của khổ... cho đến... do duyên cái lưỡi và các vị, thiệt thức khởi lên... cho đến... do duyên ý và các pháp, ý thức khởi lên. Sự hội hợp của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có thọ; do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham và đoạn diệt không còn dư tàn của chính ái ấy nên thủ diệt; do thủ diệt nên hữu diệt; do hữu diệt nên sanh diệt; do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này. Này các Tỳ khưu, đây chính là sự đoạn diệt của khổ.” Hết bài kinh thứ ba.